Tiêu chuẩn và điều kiện làm Giám đốc, Tổng Giám đốc của công ty TNHH hai thành viên trở lên - 15/07/2022
Hỏi: Công ty TNHH hai thành viên A hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, môi giới bất động sản, quyền sử dụng đất. Hiện Công ty A đang tìm kiếm nhân sự cho vị trí Giám đốc của Công ty. Ông B - viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng - có nhu cầu ứng tuyển vào vị trí trên. Xin hỏi, Công ty A có thể tuyển dụng ông B không?
Trả lời:
Tiêu chuẩn và điều kiện làm Giám đốc, Tổng Giám đốc của công ty TNHH hai thành viên trở lên quy định tại Điều 64 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Theo đó, Giám đốc, Tổng Giám đốc của công ty TNHH hai thành viên trở lên phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
- Không thuộc đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này.
- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật này, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và không được là người có quan hệ gia đình của người quản lý công ty, Kiểm soát viên của công ty và của công ty mẹ; người đại diện phần vốn của doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty và công ty mẹ.
Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì một trong các đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Căn cứ các quy định nêu trên thì Công ty A không thể tuyển dụng ông B vào vị trí Giám đốc của Công ty.
Chuyển nhượng phần vốn chưa góp trong vốn điều lệ - 29/08/2022
Hỏi: Công ty TNHH một thành viên X do ông A làm chủ sở hữu với vốn điều lệ đăng ký khi thành lập là 10 tỷ đồng. Gần hết thời hạn góp đủ số vốn đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, ông A chỉ có khả năng góp 8 tỷ đồng và được ông B đề nghị mua lại 20% số vốn điều lệ đã đăng ký tương đương với 2 tỷ đồng. Xin hỏi, trong trường hợp này, ông A có thể chuyển nhượng phần vốn chưa góp đó cho ông B được không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 75 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu công ty cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty”.
Thời hạn chủ sở hữu công ty phải góp đủ số vốn đã cam kết cho công ty quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Doanh nghiệp. Theo đó, chủ sở hữu công ty phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản.
Việc xử lý đối với trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn nêu trên quy định tại khoản 3 Điều 75 Luật Doanh nghiệp. Theo đó, chủ sở hữu công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ bằng giá trị số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ.
Luật Doanh nghiệp không có quy định cho phép chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chuyển nhượng phần vốn chưa góp trong vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác. Do đó, ông A không thể chuyển nhượng 20% số vốn điều lệ chưa góp của mình cho ông B trong tình huống trên.
Người chưa thành niên mua phần vốn góp vào doanh nghiệp - 29/08/2022
Hỏi: Công ty TNHH một thành viên A dự định chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thành công ty TNHH hai thành viên trở lên thông qua việc chuyển nhượng một phần vốn góp của chủ sở hữu cho các cá nhân khác, trong đó bao gồm anh B là người chưa thành niên. Xin hỏi, việc anh B mua phần vốn góp vào công ty có phù hợp với quy định pháp luật không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.
Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”.
Người đại diện theo pháp luật của cá nhân quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự.
Luật Doanh nghiệp không có quy định cấm người chưa thành niên góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh.
Bên cạnh đó, việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty của người chưa thành niên cần phải tuân thủ quy định về người quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp thì người chưa thành niên không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Căn cứ các quy định nêu trên, việc mua phần vốn góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn của anh B là người chưa thành niên phải đươc xác lập, thực hiện hoặc đồng ý bởi người đại diện theo pháp luật của anh B theo quy định của pháp luật về dân sự.
Xác định thành viên tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên - 14/11/2022
Hỏi: Xin hỏi, việc xác định thành viên tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên được quy định như thế nào? Trường hợp thành viên dự họp không đồng ý thông qua biên bản họp thì biên bản họp Hội đồng thành viên có phải bao gồm chữ ký của thành viên đó hay không?
Trả lời:
1. Về việc xác định thành viên tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên
Khoản 4 Điều 59 Luật Doanh nghiệp quy định thành viên được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên trong trường hợp sau đây:
“a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;
b) Ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp;
c) Tham dự và biểu quyết thông qua cuộc họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác;
d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử”.
2. Về yêu cầu về chữ ký trên biên bản họp Hội đồng thành viên
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 Luật sửa đổi Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự sửa đổi điểm e khoản 2 Điều 60 Luật Doanh nghiệp thì biên bản họp Hội đồng thành viên không bắt buộc phải có chữ ký của người dự họp nhưng không đồng ý thông qua biên bản họp.
Chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị từ chối ký vào biên bản họp - 14/11/2022
Hỏi: Xin hỏi, trường hợp chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị từ chối ký vào biên bản họp thì biên bản họp này có hiệu lực hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 6 Điều 7 Luật sửa đổi Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự sửa đổi khoản 2 Điều 158 Luật Doanh nghiệp thì trường hợp chủ tọa, người ghi biên bản từ chối ký biên bản họp nhưng nếu được tất cả thành viên khác của Hội đồng quản trị tham dự và đồng ý thông qua biên bản họp ký và có đầy đủ nội dung theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 1 Điều 158 Luật Doanh nghiệp thì biên bản này có hiệu lực. Biên bản họp ghi rõ việc chủ tọa, người ghi biên bản từ chối ký biên bản họp. Người ký biên bản họp chịu trách nhiệm liên đới về tính chính xác và trung thực của nội dung biên bản họp Hội đồng quản trị. Chủ tọa, người ghi biên bản chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại xảy ra đối với doanh nghiệp do từ chối ký biên bản họp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Điều lệ công ty và pháp luật có liên quan.
HỎI – ĐÁP VỀ DOANH NGHIỆP VÀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP: ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ - 23/11/2022
Hỏi: Ngày 15/8/2022 (Thứ Hai), tôi nhận được thông báo hồ sơ thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp là hợp lệ. Tuy nhiên, đến ngày 17/8/2022 tôi vẫn chưa nhận được kết quả. Xin hỏi, thời hạn trả kết quả thủ tục đăng ký doanh nghiệp nêu trên được tính như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định: “Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, cập nhật thông tin thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ”.
Khoản 2 Điều 147 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định”.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 148 Bộ luật Dân sự thì khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
Khoản 1 Điều 112 Bộ luật Lao động quy định về ngày nghỉ lễ, tết mà người lao động được nghỉ làm việc.
Căn cứ các quy định nêu trên, thời hạn trả kết quả thủ tục đăng ký doanh nghiệp của công ty bạn là ngày 19/8/2022.
HỎI – ĐÁP VỀ DOANH NGHIỆP VÀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP: ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ - 23/11/2022
Hỏi: Ông A là cổ đông của Công ty cổ phần B (Công ty cổ phần B không phải là công ty đại chúng). Ông A không tán thành với Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông về việc sáp nhập công ty. Do vậy, Ông A yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Xin hỏi, đối với trường hợp nêu trên công ty có bắt buộc phải mua lại cổ phần của Ông A không? Sau khi công ty mua lại cổ phần của Ông A thì công ty có phải đăng ký giảm vốn điều lệ không?
Trả lời:
Khoản 1 và khoản 2 Điều 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:
“1. Cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề quy định tại khoản này.
2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng”.
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 của Luật này nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Cổ phần được mua lại theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 của Luật này được coi là cổ phần chưa bán theo quy định tại khoản 4 Điều 112 của Luật này. Công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác.
Căn cứ các quy định nêu trên, Công ty cổ phần B phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của Ông A và phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại.
HỎI – ĐÁP VỀ DOANH NGHIỆP VÀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP: ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ - 19/12/2022
Hỏi: Công ty của tôi đăng ký thành lập năm 2014 và đang sử dụng con dấu đã được đăng tải lên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo quy định. Để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, Công ty tôi muốn khắc thêm một con dấu khác có đầy đủ nội dung giống với mẫu con dấu đang sử dụng và bổ sung thêm nội dung “Dấu hợp đồng” để đóng riêng cho các hợp đồng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Xin hỏi, công ty tôi có thể khắc thêm con dấu như trên được không?
Trả lời:
Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:
“1. Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
2. Doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp.
3. Việc quản lý và lưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành. Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật”.
Luật Doanh nghiệp không quy định doanh nghiệp phải sử dụng một mẫu dấu thống nhất về nội dung và hình thức.
Công bố báo cáo tài chính giữa năm của doanh nghiệp nhà nước - 19/12/2022
Hỏi: Xin hỏi, quy định về việc công bố báo cáo tài chính giữa năm của doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật hiện hành có điểm gì mới?
Trả lời:
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 109 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải định kỳ công bố báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên, quy định này gây ra sự chồng chéo, không thống nhất với quy định tại Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp về nội dung yêu cầu doanh nghiệp thực hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính giữa năm. Bên cạnh đó, việc yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin định kỳ đối với báo cáo tài chính giữa năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán theo quy định trên tạo thêm gánh nặng về chi phí cho doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.
Do vậy, nhằm giảm bớt chi phí, thời gian cho doanh nghiệp và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong thực hiện công bố thông tin doanh nghiệp, khoản 4 Điều 7 Luật số 03/2022/QH15 (trong đó sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2020) đã quy định báo cáo tài chính giữa năm của doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin thì không bắt buộc kiểm toán.
Công ty cổ phần tăng vốn điều lệ - 19/12/2022
Hỏi: Công ty cổ phần X không phải là công ty đại chúng dự định tăng vốn điều lệ bằng cách chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu. Xin hỏi, trường hợp số lượng cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông hiện hữu đăng ký mua hết thì xử lý như thế nào? Hồ sơ, trình tự, thủ tục tăng vốn điều lệ trong trường hợp này được quy định ra sao?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về việc xử lý đối với trường hợp số lượng cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông hiện hữu đăng ký mua hết như sau: “Trường hợp số lượng cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì Hội đồng quản trị có quyền bán số cổ phần được quyền chào bán còn lại cho cổ đông của công ty và người khác với điều kiện không thuận lợi hơn so với những điều kiện đã chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc pháp luật về chứng khoán có quy định khác”.
Hồ sơ, trình tự, thủ tục thay đổi vốn điều lệ đối với công ty cổ phần quy định tại Điều 51 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, trường hợp Đại hội đồng cổ đông thông qua việc chào bán cổ phần để tăng vốn điều lệ, đồng thời giao Hội đồng quản trị thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn điều lệ sau khi kết thúc mỗi đợt bán cổ phần, hồ sơ gồm có:
- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp do người đại diện theo pháp luật của công ty ký;
- Nghị quyết và bản sao biên bản họp Đại hội đồng cổ đông về việc chào bán cổ phần để tăng vốn điều lệ, trong đó nêu rõ số lượng cổ phần chào bán và giao Hội đồng quản trị thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn điều lệ sau khi kết thúc mỗi đợt bán cổ phần;
- Nghị quyết, quyết định và bản sao biên bản họp Hội đồng quản trị về việc đăng ký tăng vốn điều lệ công ty sau khi kết thúc mỗi đợt bán cổ phần.
Sau khi nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
|