Ngày 27/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 948/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam về trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế, theo đó, Bộ Tài chính được giao sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024 của Chính phủ về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 295/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 thay thế Nghị định số 92/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024 của Chính phủ về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Cả 02 Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 23/7/2026.
Một số nội dung cơ bản của 02 Nghị định bao gồm:
1. Nghị định số 295/2026/NĐ-CP về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
(1) Bổ sung quy định cho phép người đại diện tổ hợp tác hoặc người được ủy quyền đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có thể lựa chọn nộp hồ sơ và nhận kết quả tại bất kỳ cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nào trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nơi tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đặt trụ sở chính là cơ quan xử lý, giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Bổ sung quy định về việc không yêu cầu nộp bản sao các thành phần hồ sơ khi khai thác đầy đủ, chính xác thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu (Điều 4);
(2) Quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn) hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã (trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn) (Điều 5);
(3) Bổ sung thành phần hồ sơ giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (bản sao sổ đăng ký thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn, thành viên liên kết không góp vốn) và hồ sơ thông báo chấm dứt hoạt động tổ hợp tác (bản sao sổ ghi chép về việc đóng góp của thành viên tổ hợp tác); Bổ sung trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc cập nhật, lưu trữ thông tin về thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn, thành viên liên kết không góp vốn của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên tổ hợp tác trong Cơ sở dữ liệu về đăng ký hợp tác xã trong thời hạn 06 năm kể từ ngày hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã giải thể, tổ hợp tác chấm dứt hoạt động (các Điều 7, 51 và 64);
(4) Bổ sung quy định về việc yêu cầu xác thực điện tử đối với người ủy quyền và người được ủy quyền khi ủy quyền thực hiện các thủ tục: đăng ký thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; thông báo thay đổi thông tin về thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đăng ký thay đổi thành viên tổ hợp tác (Điều 12);
(5) Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giải thể công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán và trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trong việc cập nhật, lưu giữ thông tin về cổ đông của công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán sau khi các công ty này giải thể (Điều 6 và Điều 13);
(6) Sửa đổi quy định về hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ với quy định mới tại Luật Đầu tư năm 2025 (Điều 7);
(7) Bổ sung quy định về tổng thời gian tối đa tạm ngừng kinh doanh không quá 24 tháng và quy định chuyển tiếp đối với trường hợp tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã thông báo tạm ngừng kinh doanh trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành; Bổ sung cơ chế xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau khi kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo (các Điều 48, 63 và 68);
(8) Sửa đổi, bổ sung quy trình chuyển tình trạng pháp lý, đình chỉ thủ tục phá sản, huỷ quyết định tuyên bố hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phá sản để đảm bảo phù hợp với quy định tại Luật Phục hồi, phá sản (Điều 58);
(9) Bổ sung thủ tục đăng ký thay đổi thành viên tổ hợp tác và bãi bỏ thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện tổ hợp tác (Điều 61);
(10) Bổ sung quy định về việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác trong trường hợp tổ hợp tác không gửi báo cáo theo quy định (Điều 65);
(11) Bổ sung quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (Điều 66).
(12) Bãi bỏ Phụ lục và các Biểu mẫu kèm theo Nghị định số 92/2024/NĐ-CP. Biểu mẫu về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện theo quy định tại Thông tư số 43/2025/TT-BTC ngày 17/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành biểu mẫu sử dụng trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
2. Nghị định số 296/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp
(1) Bổ sung quy định về việc không yêu cầu nộp bản sao các thành phần hồ sơ khi đã khai thác đầy đủ, chính xác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và nguyên tắc áp dụng giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp đối với công ty TNHH một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (Điều 1);
(2) Hoàn thiện quy định về việc yêu cầu xác thực điện tử đối với người ủy quyền và người được ủy quyền khi ủy quyền thực hiện các thủ tục: đăng ký thành lập doanh nghiệp; đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, thông tin cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài của công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh (Điều 2);
(3) Sửa đổi, bổ sung quy định làm rõ về chủ sở hữu hưởng lợi và việc kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (Điều 3 và Điều 4);
(4) Sửa đổi, hoàn thiện quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh: Cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn) hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã (trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn) (Điều 5);
(5) Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giải thể công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán và trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trong việc cập nhật, lưu giữ thông tin về cổ đông của công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán sau khi các công ty này giải thể (Điều 6 và Điều 13);
(6) Sửa đổi quy định về hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ với quy định mới tại Luật Đầu tư năm 2025 (Điều 7);
(7) Hoàn thiện quy định về đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử (Điều 9);
(8) Bổ sung quy định về tổng thời gian tối đa tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp không quá 24 tháng; nghĩa vụ đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi trong thời hạn tạm ngừng; cơ chế xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại và quy định chuyển tiếp đối với trường hợp doanh nghiệp đã thông báo tạm ngừng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành (Điều 11 và Điều 21);
(9) Sửa đổi, bổ sung quy trình chuyển tình trạng pháp lý, đình chỉ thủ tục phá sản, huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản để đảm bảo phù hợp với quy định tại Luật Phục hồi, phá sản (Điều 14);
(10) Cắt giảm thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (danh sách người đại diện theo ủy quyền), cắt giảm thời gian xử lý từ 03 ngày làm việc xuống 02 ngày làm việc đối với một số thủ tục (dừng thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi của đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, chấm dứt địa điểm kinh doanh, hiệu đính thông tin đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh) (Điều 19).
Việc ban hành 02 Nghị định nêu trên góp phần bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, công khai, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba có liên quan, tạo khung khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất việc thực hiện quy định về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh và đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã./.