Sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, giải pháp huy động tối đa nguồn lực của DNNN trong phát triển kinh tế - xã hội

Thứ sáu, 01/04/2022 15:10 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về vị trí vai trò, kết quả tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020 và đề xuất định hướng lớn nhằm sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, giải pháp huy động tối đa nguồn lực của DNNN trong phát triển kinh tế - xã hội, trrong giai đoạn vừa qua, DNNN đã đạt được một số kết quả quan trọng.

DNNN đang nắm giữ nguồn lực lớn về vốn, tài sản, công nghệ, nhân lực chất lượng cao; tạo nguồn doanh thu và thu ngân sách đáng kể. Chỉ riêng các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đang nắm giữ, mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nền kinh tế (khoảng 0,08% số doanh nghiệp hoạt động tại thời điểm 31/12/2020) nhưng lại nắm giữ nguồn lực lớn của nền kinh tế (khoảng 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp trên thị trường, chiếm khoảng 25,78% tổng vốn sản xuất, kinh doanh và 23,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh). Quy mô tài sản bình quân của 01 DNNN là 4.100 tỷ đồng, cao gấp 10 lần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và gấp 109 lần doanh nghiệp dân doanh. Nhiều DNNN đã xây dựng được các thương hiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có uy tín, có ảnh hưởng lớn trong khu vực và quốc tế về nhiều lĩnh vực như dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải (Vietnam Airlines), cảng biển và logistic (TCT Tân Cảng Sài gòn, TCT Hàng Hải Việt Nam)....

DNNN đang thực sự đóng vai trò chi phối trong một số ngành lĩnh vực quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế, có vai trò đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng đã sản xuất, khai thác và cung cấp sản phẩm cho kinh tế vĩ mô, như, điện, than, khí, xăng dầu...;

Có vai trò chi phối lớn trong ngành viễn thông và công nghệ thông tin.

Các DNNN hoạt động trong lĩnh vực này đã thể hiện rõ nét vai trò dẫn dắt trong chuyển đổi số, xây dựng hạ tầng số cho các cơ quan của Chính phủ và nhiều địa phương, tổ chức, doanh nghiệp; phát triển và ứng dụng thành công các sản phẩm chuyển đổi số về dịch vụ khách hàng, hóa đơn điện tử; ứng dụng nền tảng điện toán đám mây (Cloud) và triển khai dữ liệu lớn (Big Data); cung cấp dịch vụ Ví điện tử Mobile Money; đẩy mạnh việc triển khai các cơ sở hạ tầng mới để mở rộng vùng phủ sóng 4G, truyền dẫn cáp quang, nâng cao chất lượng mạng lưới, chuẩn bị cho mạng 5G...

Có vai trò quan trọng đối với hạ tầng giao thông và đảm bảo cung ứng dịch vụ vận tải.

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp vận tải (hàng không, đường sắt, đường biển) đã tổ chức các chuyến bay, chuyến tàu vận chuyển hàng hóa phục vụ nền kinh tế và đời sống xã hội, phục vụ chiến dịch phòng, chống dịch Covid-19 gồm khẩu trang y tế, trang phục chống dịch, trang thiết bị, vật tư y tế.

Ngoài ra, DNNN quản lý và vận hành các hạ tầng cảng biển và hàng không quan trọng. Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam đang quản lý 22 cảng hàng không trong cả nước, đều là các cảng lớn, quan trọng, trong đó có 9 cảng quốc tế và 13 cảng nội địa. Tổng công ty Tân Cảng Sài gòn và Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam hiện đang là doanh nghiệp nòng cốt, chủ lực trong lĩnh vực quản lý cảng biển, vận tải hàng hải và dịch vụ logistics.

Có vai trò quan trọng trong trong việc thực hiện cung ứng dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác cho nền kinh tế, xã hội.

Các Ngân hàng Thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối đã tăng cường hiệu lực thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh. Các ngân hàng thương mại nhà nước như BIDV, Vietcombank, Viettinbank… chiếm hơn 50% tổng dư nợ cho vay của toàn ngành.

Cung cấp nguyên vật liệu sản xuất đầu vào quan trọng cho nền kinh tế; trong sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; trong phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động đầu tư của DNNN trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn then chốt, quan trọng của nền kinh tế đã giúp giảm bớt gánh nặng từ ngân sách nhà nước trong thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội quan trọng của đất nước; góp phần thực hiện tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

Nguồn vốn đầu tư của khối DNNN đã đóng góp đáng kể trong tổng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào phát triển kinh tế xã hội. Tổng vốn đầu tư của DNNN chiếm 24,6% so với tổng vốn đầu tư của Nhà nước và chiếm 12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2016-2020 (số liệu sơ bộ năm 2020).

Thứ hai, DNNN đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động trong các ngành, lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế, DNNN, đặc biệt là các Tập đoàn, Tổng công ty đã thực hiện các dự án đầu tư có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ cho phát triển KTXH, trước hết là hạ tầng giao thông, nông nghiệp, nông thôn, năng lượng, viễn thông... Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, dù còn nhiều khó khăn về nguồn lực, song các tập đoàn, tổng công ty đã tích cực triển khai các dự án đầu tư theo kế hoạch, trong đó một số tập đoàn, tổng công ty có giá trị đầu tư thực hiện khá lớn; nhiều dự án đầu tư trọng điểm, có tính kết nối, lan toả, tạo động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đã được ưu tiên phê duyệt/triển khai.

Thứ ba, triển khai thực hiện các dự án đầu tư của DNNN góp phần thực hiện tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện 03 đột phá chiến lược.

Giải pháp nhằm sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, giải pháp huy động tối đa nguồn lực của dnnn trong phát triển kinh tế xã hội

Bước sang giai đoạn 2021-2025 và xa hơn là tới năm 2030, nền kinh tế thế giới và Việt Nam  được dự báo có nhiều thay đổi. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng gặp nhiều trở ngại, thách thức; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến khó lường. Tăng trưởng kinh tế thế giới có khả năng chậm hơn so với giai đoạn trước. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây ra suy thoái trầm trọng và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, có khả năng kéo dài; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị toàn cầu, cách thức hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống xã hội của thế giới. Các tập đoàn đa quốc gia đang tái phân bổ cơ sở sản xuất kinh doanh, hình thành những liên minh kinh tế mới là cơ hội để các nước có thể tận dụng thời cơ để thực hiện các chướng trình cải cách.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của cuộc CMCN 4.0  ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp. Đồng thời, làm thay đổi bản chất của thương mại, đầu tư và lao động toàn cầu, tạo cơ hội cho các nước đi sau tăng tốc phát triển. Phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm trên thế giới; kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh đang là mô hình phát triển được nhiều quốc gia lựa chọn. Môi trường là một vấn đề có tính thách thức toàn cầu, dự báo, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường… tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với các thách thức truyền thống và phi truyền thống khác sẽ còn tác động mạnh đến sự phát triển của nước ta trong những năm tới. Do vậy, chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, năng lượng xanh sẽ là xu thế rõ nét hơn trong thời kỳ tới.

Bối cảnh này đã tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh và doanh nghiệp Việt Nam. Môi trường kinh doanh Việt Nam sẽ tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ khi Việt Nam sẽ thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại, đặc biệt là các hiệp định thương mại thế hệ mới và sẽ là thị trường tiềm năng cho sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới và kịp thời nắm bắt những cơ hội của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới. Tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta đã xác định phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đạt khoảng 20% GDP. Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, nền kinh tế trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và khả năng tụt hậu xa hơn về kinh tế vẫn là thách thức lớn. Khả năng tự chủ của nền kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động hoạt động sản xuất từ khu vực đầu tư nước ngoài và một số thị trường lớn.  Do vậy, việc phát triển nền kinh tế từ nội lực là một trong những yếu tố quan trọng trong thời kỳ hội nhập.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế chính sách đảm bảo hiệu quả, hiệu lực trong hỗ trợ, khuyến khích DNNN phát huy được lợi thế, khắc phục hạn chế, tận dụng cơ hội phát triển hiện thực hóa vai trò, vị trí của DNNN trong nền kinh tế.

Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức, quan điểm về  cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp. Mục tiêu của cổ phần hóa, thoái vốn không phải là rút vốn nhà nước ra khỏi DNNN, thu hẹp phạm vi, quy mô của khu vực DNNN, mà phải là hình thức tái cơ cấu lại danh mục đầu tư, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp nói chung và của từng DNNN nói riêng. Hiện nay, chỉ còn 94 DNNN quy mô lớn (nếu loại trừ các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và nông lâm nghiệp) gồm: 09 tập đoàn kinh tế; 67 tổng công ty nhà nước, 18 công ty hoạt động theo mô hình nhóm công ty mẹ-công ty con. Các DNNN nói trên đang nắm giữ khoảng 90% tổng tài sản, 88% tổng doanh thu và 86% lợi nhuận trước thuế của toàn bộ DNNN trên phạm vi toàn quốc. Do đó, trong giai đoạn tới, cần nghiên cứu, xem xét:

(i) xây dựng chính sách hỗ trợ, khuyến khích và công cụ quản lý riêng đối với DNNN quy mô lớn có vai trò quan trọng trong các ngành, lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế; tách biệt khỏi thể chế, chính sách  áp dụng cho các doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ công ích, DNNN quy mô nhỏ tại các địa phương. Đối với các doanh nghiệp này, cần phải xây dựng và xác định rõ định hướng, giao cho họ các sứ mệnh, nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể tương xứng với nguồn lực, vị trí và vai trò trong phát  triển  các ngành lĩnh vực có liên quan của nền kinh tế.

(ii) Không áp đặt mệnh lệnh hành chính đối với cổ phần hóa, thoái vốn; thay vào đó, thực hiện theo nguyên tắc và tín hiệu thị trường, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả để cơ cấu lại và huy động thêm vốn phục vụ phát triển DNNN có liên quan.

Thứ hai, nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là tăng đầu tư, tăng đổi mới sáng tạo và áp dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động để DNNN thực hiện vị trí, vai trò mở đường, dẫn dắt; cùng với khu vực tư nhân trong nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu tốt hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045 như Đại hội XIII đã xác định. Theo đó, cần có giải pháp cụ thể phát huy lợi thế, huy động và khai thác có hiệu nguồn lực mà DNNN đang quản lý và sử dụng. Nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ chế vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quyền của chủ sở hữu; vừa tạo điều kiện cho DNNN, đặc biệt là DNNN quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt trong các ngành kinh tế chủ lực, có đầy đủ quyền tự chủ, được hoạt động và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác.

Thứ ba, cần gắn phát triển DNNN với thực hiện chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Xác định rõ ngành, lĩnh vực then chốt cần có sự hiện diện của DNNN phù hợp với định hướng phát triển bền vững của đất nước (như năng lượng tái tạo, công nghiệp công nghệ cao, kết cấu hạ tầng quan trọng của quốc gia…). Khuyến khích các DNNN chuyển đổi mô hình phát triển hướng tới sử dụng năng lượng sạch, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững, bao trùm và nhân văn theo cam kết của Việt Nam tại Hội nghị Cop 26.

Thứ tư, xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ về DNNN, tài sản nhà nước để đánh giá, theo dõi và giám sát; qua đó, có định hướng phù hợp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý thông tin về doanh nghiệp nhà nước trên nguyên tắc đo lường được, khách quan, kịp thời và minh bạch nhằm tăng cường giám sát hoạt động của DNNN tức thời, phát hiện sớm các rủi ro, ngăn ngừa sai phạm, thất thoát, lãng phí.

Thứ năm, các Bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là UBQLV nhà nước tại doanh nghiệp cần phải thay đổi cách thức làm việc, chủ động thực hiện đầy đủ và hiệu lực các quyền chủ sở hữu tại doanh nghiệp theo quy định pháp luật và thông lệ quốc tế; không can thiệp vào quá trình điều hành, quản trị kinh doanh tại doanh nghiệp.

Thứ sáu, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước thông qua việc phân công một Bộ làm đầu mối quản lý nhà nước thực hiện giám sát hoạt động của cơ quan đại diện chủ sở hữu, xây dựng định hướng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước./.

Nguyễn Thị Mai Phương

Lượt xem: 957

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử