Phát huy được lợi thế, khắc phục hạn chế, tận dụng cơ hội phát triển, hiện thực hóa vai trò, vị trí của DNNN

Thứ sáu, 01/04/2022 15:17 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

Phát biểu tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp nhà nước diễn ra ngày 24/3/2022, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, Nghị Quyết số 12-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 5, Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã đưa ra quan điểm chỉ đạo “DNNN là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”.

DNNN đã đạt được một số kết quả quan trọng

Thực hiện quan điểm chỉ đạo nói trên, trong giai đoạn 5 năm qua, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khá đầy đủ, đồng bộ các cơ chế, chính sách điều chỉnh hoạt động của DNNN, tạo khung khổ pháp lý để các DNNN tổ chức triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh và đã đạt được một số kết quả quan trọng.

Thứ nhất, DNNN đang nắm giữ nguồn lực lớn về vốn, tài sản, công nghệ, nhân lực chất lượng cao; tạo nguồn doanh thu và thu ngân sách đáng kể: Chỉ riêng các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đang nắm giữ khoảng 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp trên thị trường. Theo tính toán sơ bộ, tổng tài sản của khối DNNN theo giá trị sổ sách năm 2021 khoảng 4 triệu tỷ đồng; quy mô tài sản bình quân của 01 DNNN khoảng 4.100 tỷ đồng, cao gấp 10 lần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và gấp 109 lần doanh nghiệp dân doanh; DNNN có vai trò chi phối trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như dầu khí, điện lực, tài chính, ngân hàng, viễn thông, hạ tầng giao thông.

Thứ hai, DNNN đóng vai trò chi phối trên trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng như: đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; xây dựng, phát triển hạ tầng và cung cấp dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin; hạ tầng giao thông, và sản xuất, cung ứng một số nguyên vật liệu đầu vào cơ bản cho nền nền kinh tế… Hiện nay, có tới 96% khách hàng sử dụng mạng điện thoại di động là của Viettel, VNPT và Mobifone. Các ngân hàng thương mại nhà nước như BIDV, Vietcombank, Viettinbank… chiếm hơn 50% tổng dư nợ cho vay của toàn ngành.

Thứ ba, DNNN có vai trò lớn trong sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Nhiều TĐKT, TCT tham gia cùng Nhà nước đảm bảo an ninh, quốc phòng, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia; cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu như điện, nước, thuỷ lợi, thủy nông, vệ sinh môi trường…

Thứ tư, DNNN đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn đầu tư của khối DNNN đã đóng góp đáng kể trong tổng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào phát triển kinh tế xã hội. Tổng vốn đầu tư của DNNN chiếm 24,6% so với tổng vốn đầu tư của Nhà nước và chiếm 12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2016-2020.

Như vậy, có thể thấy, DNNN có vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động của các DNNN, đặc biệt là các TĐKT, TCT có ảnh hưởng lớn đến phát triển một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Hoạt động đầu tư của DNNN trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn then chốt, quan trọng của nền kinh tế đã giúp giảm bớt gánh nặng từ ngân sách nhà nước trong thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng quan trọng của đất nước; góp phần thực hiện tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

DNNN hiện vẫn còn nhiều dư địa, tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả

Tuy đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ nêu trên, kết quả hoạt động của khối DNNN trong thời gian qua vẫn chưa đạt như kỳ vọng, cần phải được khắc phục. DNNN hiện vẫn còn nhiều dư địa, tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả.  Các tập đoàn, tổng công ty về cơ bản chưa thực hiện được vai trò dẫn dắt, tạo động lực đối với nền kinh tế. Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, DNNN tuy nắm giữ nguồn lực lớn của nền kinh tế, nhưng không có các dự án đầu tư phát triển quy mô đủ lớn tạo động lực bứt phá, sức lan tỏa, hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong  lĩnh vực sản xuất năng lượng mới, năng lượng sạch, lĩnh vực công nghệ cao thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, tăng trưởng xanh, công nghiệp công nghệ 4.0…

Hiệu quả hoạt động của DNNN chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Khu vực DNNN tiếp tục có xu hướng giảm dần quy mô và tỷ lệ đóng góp ở tất cả các chỉ tiêu về hiệu quả trong giai đoạn 2016-2021. Các DNNN nhìn chung đang có chỉ số nợ cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp; chỉ hoạt động hiệu quả ở rất ít ngành, lĩnh vực có lợi thế tự nhiên (khai thác khoáng sản, dầu khí) hoặc thống lĩnh thị trường (viễn thông, tài chính – ngân hàng).

Năng lực cạnh tranh, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của các DNNN quy mô lớn vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước. Hoạt động của DNNN nhìn chung còn thiên về ”hướng nội”. Các chỉ tiêu, kế hoạch của DNNN còn thiên về lượng, chưa chú trọng chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc tế; công tác đổi mới quản trị doanh nghiệp triển khai chậm, chưa thực sự tiệm cận theo các nguyên tắc và thông lệ quốc tế tốt, phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại. Chế độ đãi ngộ và xử lý trách nhiệm cơ bản vẫn áp dụng như đối với công chức, viên chức nhà nước, không tạo được động lực khuyến khích cán bộ, công nhân viên, nhất là cán bộ quản lý, dám chủ động, đổi mới sáng tạo và cống hiến hết mình trong quản lý, điều hành doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo mới chỉ được quan tâm tại một số DNNN trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, điện lực, dầu khí…

Việc thực hiện các dự án đầu tư mới của DNNN trong thời gian qua không được thúc đẩy. Trong 5 năm vừa qua rất ít dự án, công trình mới của DNNN được khởi công; các DNNN chỉ tiếp tục thực hiện các dự án dở dang hoặc xử lý các dự án không hiệu quả từ giai đoạn trước. Trong giai đoạn 2016-2020, 19 Tập đoàn Tổng công ty thuộc UBQLVNN và Tập đoàn Viettel chỉ triển khai thực hiện 04 dự án đầu tư nhóm A, trong đó có 03 dự án chuyển tiếp từ năm 2015 trở về trước và 01 dự án khởi công mới năm 2016.

Bên cạnh đó, việc tái cơ cấu toàn diện DNNN vẫn mang tính hình thức. Quá trình cơ cấu lại DNNN mới chủ yếu tập trung sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn  để có cơ cấu hợp lý hơn. Trong nội bộ từng DNNN, việc cơ cấu lại mới chỉ tập trung vào việc sắp xếp các doanh nghiệp thành viên theo hướng giảm số lượng mà chưa chú trọng thực hiện các định hướng, giải pháp đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và một chiến lược kinh doanh dài hạn có tính khả thi cao.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, nguyên nhân của những tồn tại là do hệ thống pháp luật về DNNN, trong đó có TĐKT, TCT vẫn còn nhiều bất cập; các quy định pháp luật liên quan về quản trị doanh nghiệp, quản lý vốn và tài sản, đất đai, đấu giá, đấu thầu… chưa đồng bộ, chưa phù hợp với đầu tư kinh doanh và quản trị điều hành DNNN trong kinh tế thị trường; chưa thực sự trao quyền chủ động DNNN trong hoạt động kinh doanh và đầu tư; các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước buộc phải xin ý kiến, xin chấp thuận và phê duyệt của nhiều cơ quan quản lý trong việc quyết định các vấn đề quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều ý kiến cho rằng, chính thực tế nói trên đang làm cho DNNN bị phân biệt đối xử và phải cạnh tranh bất bình đẳng so với các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Chính sách, pháp luật về DNNN và các giải pháp thực thi trong giai đoạn vừa qua mới chủ yếu tập trung  đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn; xử lý những tồn tại, tiêu cực, sai phạm trong thực hiện tái cơ cấu, đầu tư của DNNN giai đoạn trước... Pháp luật hiện hành về DNNN nói chung chưa thật sự phân cấp, trao quyền tự chủ cho DNNN trong đầu tư kinh doanh, quản trị và quản lý điều hành.

Trong thời gian qua, Chính phủ chủ yếu tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp nhằm xử lý vướng mắc, tồn đọng từ trước đối với một số DNNN, các dự án đầu tư kém hiệu quả để hạn chế các tổn thất; chưa có nhiều nỗ lực thay đổi thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tháo bỏ rào cản hành chính, khuyến khích mạnh mẽ đầu tư mở rộng kinh doanh, phát triển các ngành nghề, sản phẩm mới, nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo khoa học công nghệ phù hợp với xu thế thời đại để DNNN thực sự phát huy được vai trò, sứ mệnh của mình để đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội.

Các quy định về tiền lương và chế độ đãi ngộ khác cho người quản lý DNNN chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, chưa tạo động lực vật chất cho người quản lý, lao động tại DNNN đóng góp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp; đồng thời không thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao. Công tác quản lý nhà nước đối với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty trong thời gian qua có lúc, có nơi còn buông lỏng, chưa hiệu quả nên chưa kịp thời phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các vi phạm…

Nguyễn Thị Mai Phương

Lượt xem: 830

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử