Theo dự thảo, trong giai đoạn 05 năm 2021-2020, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; khu vực doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Bình quân giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp thành lập mới của cả nước đạt 10,5%/năm, tăng gấp hai lần so với giai đoạn 2011-2015; tốc độ gia tăng số doanh nghiệp hoạt động là 15%, tăng khoảng 80% so với giai đoạn 2011-2015. Vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bình quân trong 5 năm gần đây đạt khoảng 34,3 triệu tỷ đồng/năm, tăng 82% so với bình quân của giai đoạn 2011-2015; hiện có khoảng 31 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Số lao động hiện làm việc trong khu vực doanh nghiệp chiếm khoảng 27% lực lượng lao động của toàn xã hội, thu hút bình quân 14,5 triệu lao động/năm, tăng 24,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015.
Hiện nay, khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 66% GDP cả nước, 30% tổng việc làm trong nền kinh tế, 97% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp hoạt động ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp vẫn chưa phát huy được hết vai trò và tiềm năng, chủ yếu có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, trình độ quản trị, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động thấp, mức độ liên kết còn hạn chế, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Đặc biệt, từ đầu năm 2020, do những hạn chế nội tại của khu vực doanh nghiệp, cộng thêm ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh Covid-19, khó khăn và thách thức ngày càng thêm nặng nề.
Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành kịp thời các chính sách, giải pháp hỗ trợ thảo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh bị tác động bởi dịch bệnh Covid-19, đồng thời Chính phủ cũng đang xây dựng trình Quốc hội Chương trình phục hồi nền kinh tế bền vững giai đoạn 2022-2023, trong đó có chương trình phục hồi doanh nghiệp. Đây là các chính sách, giải pháp hỗ trợ tháo gỡ những vấn đề cấp bách trong ngắn hạn và trung hạn cho khu vực doanh nghiệp.
Bên cạnh những giải pháp hỗ trợ ngắn hạn, các chính sách và giải pháp hỗ trợ có trọng tâm trong dài hạn là hết sức cần thiết giúp khu vực doanh nghiệp thích ứng với tình hình mới, ổn định, phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh và tiến tới bắt kịp, tiến cùng với các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, lớn mạnh về số lượng và chất lượng, tham gia sâu rộng vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu; từ đó góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn 2021-2025.
Thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, trên cơ sở Báo cáo Tổng kết 5 năm tình hình thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, kinh nghiệm quốc tế và yêu cầu thực tiễn về phát triển của khu vực doanh nghiệp trong giai đoạn 5 năm tới. Bộ kế hoạch và Đầu tư đã dự thảo Nghị quyết hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021-2025 với 05 quan điểm chính như sau:
1. Quán triệt thực thi đầy đủ và hiệu quả các nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về khuyến khích phát triển doanh nghiệp; bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp theo Hiến pháp và pháp luật; củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân.
2. Khơi thông các điểm nghẽn, huy động, giải phóng các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển; bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực và chính sách; thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.
3. Bảo đảm tính ổn đinh, nhất quán, dễ dự báo, rõ ràng, minh bạch, hiệu quả và thực chất của chính sách; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng thông thoáng, thuận lợi, an toàn và thân thiện, tiếp cận với chuẩn mực quốc tế; đơn giản hóa khâu tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm dựa trên tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng, minh bạch, hợp lý; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước.
4. Mạnh dạn thí điểm các giải pháp, chính sách phát triển mô hình kinh doanh mới dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh doanh bao trùm trên nguyên tắc bám sát tình hình thực tiễn và thông lệ quốc tế tốt.
5. Hỗ trợ có trọng tâm các doanh nghiệp có khả năng phục hồi, dựa trên đổi mới sáng tạo; trong đó ưu tiên doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực có lợi thế, tiềm năng tạo động lực tăng trưởng mới, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
Dự thảo Nghị quyết tập trung vào 06 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau: (i) Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; (ii) Hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (iii) Hỗ trợ tái cấu trúc lao động, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng; (iv) Khơi thông và tăng cường tiếp cận nguồn lực tài chính; (v) Hỗ trợ mở rộng thị trường, tăng cường liên kết, tham gia chuỗi giá trị; (vi) Khuyến khích phát triển doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt trong một số ngành kinh tế mũi nhọn và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Phấn đấu đến năm 2025:
- Có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp hoạt động; 10.000 hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp;
- Khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 65-70% GDP cả nước, khoảng 30-35% tổng việc làm trong nền kinh tế, 98-99% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu;
- Khoảng 70 doanh nghiệp có vốn hóa trên thị trường chứng khoán đạt trên 1 tỷ đô la Mỹ;
- Khoảng 10 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được định giá trên 1 tỷ đô la Mỹ;
- Khoảng 35-40% tổng số doanh nghiệp có hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo;
- 100% cơ sở kinh doanh bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được nâng cao nhận thức về chuyển đổi số; tối thiểu 30.000 cơ sở kinh doanh được hỗ trợ thực hiện chuyển đổi số;
- Mỗi năm tăng 10% số lượng doanh nghiệp được xếp vào danh sách doanh nghiệp có giá trị thương hiệu cao nhất của các tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới;
- Cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cho doanh nghiệp và người dân.
Lê Thị Diễm Quỳnh