Phát biểu tại Hội nghị bàn tròn với chủ đề “Khối Doanh nghiệp vừa và nhỏ với Hiệp định EVFTA” diễn ra ngày 26/3/2021 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Duy Đông nhấn mạnh, đây là sự kiện rất kịp thời, có ý nghĩa lớn trong bối cảnh Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) vừa có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 sau khi được Quốc hội hai bên phê chuẩn.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 800.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa chiếm 97%, đóng góp 45% GDP, 31% tổng thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động. Trong mọi hoàn cảnh, doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn năng động, sáng tạo, nhạy bén, linh hoạt vượt qua mọi khó khăn, thách thức góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Việc kết thúc đàm phán thành công, từ đó tiến tới ký kết và phê chuẩn Hiệp định EVFTA là một chặng đường dài với sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam. EVFTA được coi là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và Liên minh Châu Âu. Như vậy, cùng với việc Hiệp định CPTPP được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn và có hiệu lực từ đầu năm 2019, Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội trong bối cảnh tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Từ một nước đi sau trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế, lần đầu tiên Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đi đầu, đã ký kết kết 14 FTA với các đối tác, là nước đang phát triển đầu tiên trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tự do với EU, thuộc nhóm nước đầu tiên trong ASEAN phê chuẩn Hiệp định CPTPP.
Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, nếu các cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan được thực thi triệt để thì tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ được cải thiện trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Hiệp định EVFTA dự kiến sẽ góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18 đến 3,25% (cho giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57-5,30% (cho giai đoạn 5 năm tiếp theo) và 7,07-7,72% (cho giai đoạn 5 năm sau đó).
Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, Liên minh Châu Âu sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết cho đến nay. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay.
Về xuất khẩu, EVFTA dự kiến giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định.
Cho thấy rằng, EVFTA góp phần giúp đa dạng hóa thị trường của Việt Nam để không bị phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường nào, từ đó giúp bảo đảm an ninh kinh tế của Việt Nam.
Bên cạnh những cơ hội thì Hiệp định EVFTA cũng đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp SMEs. Quá trình hội nhập kinh tế cho thấy doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang gặp khó khăn khi tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu do năng lực cạnh tranh hạn chế, nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, trong đó có ba nguyên nhân cụ thể là: Doanh nghiệp quy mô nhỏ nên gặp khó khăn trong huy động nguồn lực để đầu tư vào công nghệ, trình độ quản lý và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chưa có chiến lược đầu tư cho sự phát triển dài hạn. Đôi lúc doanh nghiệp còn tâm lý e dè, chưa dám chấp nhận rủi ro để đầu tư phát triển nên chưa thể có những bước đi đột phá; Các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế hợp tác, hỗ trợ và nâng đỡ nhau để trở thành các đối tác lâu dài, hướng tới mục tiêu phát triển chung; Nhận thức của một số doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) còn ngắn hạn, chưa xác định tầm nhìn dài hạn với tư duy chiến lược. Sự liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp còn yếu và rời rạc không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp mà còn giảm hiệu quả xuất khẩu, tham gia các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới.
Đây là bài toán Chính phủ luôn trăn trở: Làm sao để tăng cường liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp khu vực tư nhân trong nước; đồng thời thúc đẩy hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam lớn mạnh để có thể chủ động tham gia, chuyển dịch lên nấc thang cao hơn trong các chuỗi giá trị toàn cầu.
Trước những cơ hội và thách thức mà Hiệp định EVFTA mang lại, Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có những hành động cụ thể để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam. Ngay sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, ngày 06/8/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1201/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) với 5 nhóm giải pháp chủ yếu gồm: Công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về Hiệp định EVFTA và thị trường của các nước EU; công tác xây dựng pháp luật, thể chế; các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực; chủ trương và chính sách đối với tổ chức công đoàn và các tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp và chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mỗi nhóm công việc này được xây dựng với những nội dung, hành động chi tiết được phân công cho từng Bộ, ngành với thời gian triển khai cụ thể.
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp, ngày 15/9/2020, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký Quyết định số 1400/QĐ-BKHĐT ban hành Kế hoạch thực hiện Hiệp định nhằm tổ chức thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ được phân công tại Quyết định số 1201/QĐ-TTg ngày 06/08/2020 của Thủ tướng Chính phủ với 4 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu bao gồm: tuyên truyền, phổ biến thông tin về Hiệp định và tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư; hướng dẫn thực hiện và áp dụng cam kết của Việt Nam theo quy định của Hiệp định; xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và chính sách thực thi Hiệp định, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật và nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tận dụng lợi ích của Hiệp định.
Bên cạnh đó, để hỗ trợ DNNVV tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị cũng như các cụm liên kết ngành, thời gian qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh triển khai các giải pháp cụ thể nhằm triển khai hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, với trọng tâm là xây dựng Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị giai đoạn 2021-2025, với các nội dung hỗ trợ về thị trường, hỗ trợ liên kết sản xuất kinh doanh, hỗ trợ phát triển thương hiệu, hỗ trợ về tiêu chuẩn kỹ thuật, đo lường chất lượng, hỗ trợ về tài chính tín dụng, hỗ trợ sản xuất thử nghiệm...
Triển khai Dự án Thúc đẩy cải cách và nâng cao năng lực kết nối của DNNVV (LinkSME) do Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu rộng vào mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu.
Đồng thời, thúc đẩy mối quan hệ kinh doanh giữa các DNNVV Việt Nam với các doanh nghiệp đầu chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực của các DNNVV Việt Nam để tham gia chuỗi cung ứng trong khu vực và toàn cầu.
Đồng thời, hoàn thiện cơ sở vật chất của Trung tâm đổi mới sáng tạo Việt Nam (NIC) để hỗ trợ các hoạt động của các chủ thể của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Cơ hội bao giờ cũng đi cùng với thách thức. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tiếp tục phát huy sức sáng tạo và linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh mới, nhanh nhạy tận dụng các cơ hội thị trường; dám chấp nhận rủi ro, huy động mọi nguồn lực đầu tư cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và đạo tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để có thể đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp đối tác và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các doanh nghiệp nước ngoài nói chung và doanh nghiệp EU nói riêng, tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước, tạo cơ hội thị trường, mua sắm từ doanh nghiệp Việt Nam; Phái đoàn liên minh châu Âu nghiên cứu, phối hợp với Chính phủ Việt Nam triển khai các Chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam cụ thể hóa tối đa lợi ích mang lại từ Hiệp định, thực hiện tốt cam kết để trở thành đối tác tin cậy của doanh nghiệp EU.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cam kết phối hợp chặt chẽ các Bộ, ngành, địa phương và các Hiệp hội trong đó có Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách, giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực, tận dụng các lợi ích của FTA, tham gia vào các chuỗi liên kết, đồng thời tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. /.
Nguyễn Thị Mai Phương