MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ TÌNH HÌNH ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH, CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TẠI TỈNH SƠN LA 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2020

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Sơn La nằm cách Hà Nội 320 km trên trục Quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên, Sơn La là một tỉnh nằm sâu trong nội địa. Tỉnh này có 3 cửa khẩu với Lào là cửa khẩu quốc tế Chiềng Khương, Cửa khẩu Lóng Sập và Nà Cài. Sơn La là mái nhà của đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình phần lớn là đồi núi, trong đó các đồi núi cao tập trung ở các huyện Sốp Cộp, Thuận Châu, Bắc Yên,... Sơn La có dòng sông Mã, sông Đà đi qua, phù sa từ hai con sông này đã bồi nên những thung lũng, 2 dòng sông này còn gây ra tình trạng xâm thực, sức nước mạnh khoét sâu vào các ngọn đồi, làm sụp những phần đất cao và mở rộng thung lũng ra. Phía Đông là các cao nguyên rộng lớn như cao nguyên Mộc Châu, đây là nơi có đồng cỏ lớn, là nơi chăn nuôi gia súc phù hợp.
Địa hình cao, sông suối nhiều, lắm thác ghềnh, nên đây là nơi có nguồn thủy điện dồi dài, nhà máy thủy điện Sơn La được xây dựng ở đây là nhà máy lớn nhất Đông Nam Á hiện tại. Phía Bắc và Đông là những dãy núi cao vắt ngang chắn lại các lối giao thông, vì thế đã tạo ra các đèo như đèo Pha Đin, đèo Tà Xùa,...
Năm 2019, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Sơn La không tính giá trị của 03 nhà máy thủy điện Sơn La, Huổi Quảng, Nậm Chiến, ước đạt 9,03%. Tổng sản phẩm bình quân đầu người ước đạt 40,6 triệu đồng/năm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng 2,51% thấp hơn các năm trước do chịu tác động trực tiếp từ diễn biến thời tiết, nhất là dịch tả lợn châu Phi và một số cây trồng giảm, như: Sản lượng ngô giảm 16,6%; mận giảm 2,0%; nhãn giảm 11,2%; mía giảm 8,3%. Tuy nhiên, nổi bật trong lĩnh vực này là tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, tuy ngành công nghiệp giảm song ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 15,11%. Đối với khu vực dịch vụ, các ngành dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường vẫn giữ mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,11%; vận tải kho bãi tăng 8,23%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,34%... Nhóm dịch vụ sự nghiệp và nhóm hành chính công giữ mức tăng trưởng ổn định.
Trong những tháng đầu năm 2020, do ảnh hưởng chung của dịch bệnh Covid-19, tình hình đăng ký doanh nghiệp 9 tháng đầu năm 2020 của Sơn La cũng chịu một số tác động.
I. Về tình hình đăng ký doanh nghiệp tại tỉnh Sơn La
1. Tình hình doanh nghiệp đang hoạt động:
Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2020, bình quân cả nước năm 2019 có 7,9 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân. Có 8/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân cao hơn bình quân cả nước, cụ thể: (1) Thành phố Hồ Chí Minh có 26,5 doanh nghiệp; (2) Đà Nẵng có 19,8 doanh nghiệp; (3) Hà Nội có 19,3 doanh nghiệp; (4) Bình Dương có 12,9 doanh nghiệp; (5) Hải Phòng có 9,8 doanh nghiệp; (6) Khánh Hòa có 9,0 doanh nghiệp; (7) Bà Rịa - Vũng Tàu có 8,8 doanh nghiệp và (8) Bắc Ninh có 8,2 doanh nghiệp. Trong khi đó, Sơn La có 1,4 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân, thấp hơn rất nhiều so với bình quân cả nước.
Cũng theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2020, bình quân cả nước năm 2019 có 15,4 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân trong độ tuổi lao động. Có 9/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân trong độ tuổi lao động cao hơn bình quân cả nước, cụ thể: (1) Thành phố Hồ Chí Minh có 54,4 doanh nghiệp; (2) Hà Nội có 43,0 doanh nghiệp; (3) Đà Nẵng có 40,1 doanh nghiệp; (4) Bình Dương có 21,3 doanh nghiệp; (5) Hải Phòng có 20,5 doanh nghiệp; (6) Bà Rịa - Vũng Tàu có 17,4 doanh nghiệp; (7) Khánh Hòa và Bắc Ninh cùng có 17,2 doanh nghiệp; (9) Cần Thơ có 15,6 doanh nghiệp. Trong khi đó, Sơn La có 2,6 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân trong độ tuổi lao động, thấp hơn rất nhiều so với bình quân cả nước.
2. Về doanh nghiệp thành lập mới:
Trong 9 tháng đầu năm 2020, Sơn La có 227 doanh nghiệp thành lập mới (chiếm 5,65% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, chiếm 0,23% cả nước) với số vốn đăng ký là 2.445 tỷ đồng (chiếm 5,24% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, chiếm 0,17% cả nước), tăng 14,65% về số doanh nghiệp và tăng 46,38% về số vốn so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới tại Sơn La là 1.822 (chiếm 2,75% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, chiếm 0,23% cả nước), tăng 17,62% so với cùng kỳ năm ngoái (Cả nước có 98.955 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.428.482 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 777.902 người, giảm 3,25% về số doanh nghiệp, tăng 10,67% về số vốn và giảm 16,34% về số lao động đăng ký so với cùng kỳ 2019).
3. Về doanh nghiệp quay trở lại hoạt động:
Tại Sơn La, trong 9 tháng đầu năm 2020 có 62 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (chiếm 3,60% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và chiếm 0,18% cả nước), tăng 10,71% so với cùng kỳ năm trước (Cả nước có 34.631 doanh nghiệp quay lại hoạt động, tăng 25,50% so với cùng kỳ 2019).
4. Về doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp giải thể, chờ giải thể và doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký:
Trong 9 tháng đầu năm 2020, tại Sơn La có: 56 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 3,0% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và chiếm 0,1% cả nước), tăng 47,4% so với cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 38.629 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 81,8% so cùng kỳ 2019); 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể (chiếm 5,4% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và chiếm 0,2% cả nước), tăng 175,0% so với cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 27.588 doanh nghiệp tạm ngừng chờ giải thể, giảm 2,4% so cùng kỳ 2019); 26 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (chiếm 5,76% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và chiếm 0,2% cả nước), giảm 72,9% so với cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 12.089 doanh nghiệp giải thể, tăng 0,1% so với cùng kỳ 2019).
Ngoài ra, theo số liệu của Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong 9 tháng đầu năm 2020, tại Sơn La có 73 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (chiếm 4,8% khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và 0,2% cả nước), giảm 3,9% so cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 36.522 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 39,6% so cùng kỳ 2019).
II. Về tình hình cải cách TTHC, cải thiện môi trường kinh doanh
- Nhìn chung, tình hình giải quyết thủ tục hành chính(TTHC) về đăng ký doanh nghiệp tại Sơn La được xử lý tương đối tốt. Cụ thể trong năm 2019: thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập mới là 0,92 ngày, nhanh hơn so với quy định tại Luật Doanh nghiệp (03 ngày làm việc); tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn đạt 99,90%, trên mức trung bình cả nước là 98,36%.
- Về chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Sơn La đạt 63,38 điểm, xếp ở vị trí thứ 57 (giảm 01 bậc so với năm 2018), thuộc nhóm Trung bình. Trong những năm gần đây, điểm số của Sơn La liên tục tăng nhưng năm 2016 lại có sự sụt giảm so với năm 2015 (năm 2015 đạt 57,21 điểm, thuộc nhóm Khá; năm 2016 đạt 55,49 điểm, thuộc nhóm Tương đối thấp; năm 2017 đạt 58,90 điểm, thuộc nhóm Thấp; năm 2018 đạt 60,79 điểm, thuộc nhóm Trung bình).
- Về chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) của Sơn La năm 2019 đạt 45,11 điểm, nằm trong nhóm 16 tỉnh có điểm số Cao nhất. Điểm số của Sơn La liên tục tăng trong những năm gần đây, (năm 2015 đạt 35,50 điểm, năm 2016 đạt 35,55 điểm, năm 2017 đạt 35,64 điểm, năm 2018 đạt 43,76 điểm). Thực tế này cho thấy nỗ lực rất lớn của chính quyền thành phố trong công tác chỉ đạo, điều hành.
- Tại Báo cáo chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX 2019), Sơn La đạt 81,93%, xếp hạng 23/63, thuộc nhóm B (nhóm cao thứ hai, gồm 43 tỉnh, thành phố).
Nguyễn Thanh Hòa