Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Nam Trung Bộ, là mảnh đất giàu tiềm năng đang chờ đợi được đầu tư hơn nữa để trở thành một trong những trung tâm phát triển ở miền Trung với nền tảng văn hoá lâu đời, các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng thu hút khách trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, tác động rất lớn từ dịch bệnh Covid-19 đã khiến tình hình kinh tế - xã hội tại Quảng Ngãi 9 tháng đầu năm 2020 gặp không ít khó khăn, thách thức. Tăng trưởng ở hầu hết các ngành bị chậm lại, thậm chí có ngành, lĩnh vực bị suy giảm; sản xuất công nghiệp tuy duy trì được sự phát triển nhưng còn thấp so với mục tiêu đề ra; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh chưa đạt so với kế hoạch được giao và thấp so với cùng kỳ; hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ vui chơi, giải trí còn hạn chế; hoạt động của các nhà máy sản xuất bị trì trệ, việc thi công các dự án bị gián đoạn, chậm tiến độ đề ra do số lượng lớn người lao động, chuyên gia nước ngoài chưa thể nhập cảnh…
Bên cạnh đó, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước; tình hình doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và giải thể tiếp tục tăng lên do các nhà đầu tư chưa tìm kiếm được cơ hội đầu tư, kinh doanh.
I. Tình hình đăng ký doanh nghiệp 9 tháng đầu năm 2020
1. Doanh nghiệp thành lập mới
Trong 9 tháng đầu năm 2020, Quảng Ngãi có 549 doanh nghiệp thành lập mới (chiếm 4,1% khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và chiếm 0,6% cả nước) với số vốn đăng ký là 3.040 tỷ đồng (chiếm 2,6% khu vực và chiếm 0,2% cả nước), giảm 20,9% về số doanh nghiệp và giảm 67,1% về số vốn so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới tại Quảng Ngãi là 7.908 (chiếm 6,5% khu vực và chiếm 1% cả nước), giảm 30,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
2. Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động
Tại Quảng Ngãi, trong 9 tháng đầu năm 2020 có 184 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (chiếm 3,4% khu vực và 0,5% cả nước), tăng 58,6 % so với cùng kỳ năm trước.
3. Doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp giải thể, chờ giải thể và doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký
Trong 9 tháng đầu năm 2020, tại Quảng Ngãi có: 271 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 4% khu vực và chiếm 0,7% cả nước), tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2019; 168 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể (chiếm 3,4% khu vực và chiếm 0,6% cả nước), tăng 22,6% so với cùng kỳ năm 2019; 78 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (chiếm 4,3% khu vực và chiếm 0,6% cả nước), giảm 4,9% so cùng kỳ năm 2019.
Ngoài ra, theo số liệu của Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong 9 tháng đầu năm 2020, tại Quảng Ngãi có 197 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (chiếm 4% khu vực và 0,5% cả nước), tăng 56,3% so cùng kỳ năm 2019.
II. Về tình hình cải cách TTHC, cải thiện môi trường kinh doanh
Nhìn chung, tình hình giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) về đăng ký doanh nghiệp tại Quảng Ngãi được xử lý tương đối tốt. Cụ thể trong năm 2019: thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập mới là 1,06 ngày, nhanh hơn so với quy định tại Luật Doanh nghiệp (03 ngày làm việc); tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn đạt 100%. Tuy nhiên, tỷ lệ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được thực hiện bằng phương thức đăng ký qua mạng điện tử tại Quảng Ngãi chỉ đạt 15,47%, thấp hơn rất nhiều mức trung bình của cả nước (70,7%). Đây là một điểm cần lưu ý đối với Quảng Ngãi, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đang thực hiện việc xây dựng Chính phủ, chính quyền điện tử và tình hình dịch bệnh còn nhiều diễn biến khó lường.
Theo kết quả công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), PCI của Quảng Ngãi đạt 64,33 điểm, tăng 1,93 điểm và xếp thứ hạng 41/63 tỉnh, thành phố. So với năm 2018 thì tại PCI 2019, Quảng Ngãi có 4 chỉ số tăng điểm và tăng bậc, gồm: Gia nhập thị trường tăng 1,43 điểm và tăng 52 bậc (từ vị thứ 55 lên 3). Tính minh bạch tăng 0,31 điểm và tăng 2 bậc (từ vị thứ 10 lên 8). Cạnh tranh bình đẳng tăng 0,89 điểm và tăng 6 bậc (từ vị thứ 60 lên 54). Thiết chế pháp lý và an ninh trật tự tăng 0,66 điểm và tăng 16 bậc (từ vị thứ 52 lên 36). Có 3 chỉ số tăng điểm, nhưng giảm bậc, gồm: Tiếp cận đất đai tăng 0,10 điểm, giảm 5 bậc (từ vị thứ 34 xuống 39). Tính năng động của chính quyền tỉnh tăng 0,57 điểm, giảm 1 bậc (từ vị thứ 49 xuống 50) và đào tạo lao động tăng 0,03 điểm, giảm 8 bậc (từ vị thứ 40 xuống 48). Có 1 chỉ số giảm điểm, nhưng tăng bậc là dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (DN) giảm 0,07 điểm, tăng 14 bậc (từ vị thứ 46 lên 32). Hai chỉ số giảm điểm và giảm bậc là chi phí thời gian giảm 0,68 điểm, giảm 25 bậc (từ vị thứ 19 xuống 44) và chi phí không chính thức giảm 0,11 điểm, giảm 10 bậc (từ vị thứ 32 xuống 42).
Kết quả PCI của Quảng Ngãi năm 2019 phản ánh tương đối toàn diện chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh của Quảng Ngãi trong năm qua và cho thấy những nỗ lực của tỉnh trong thời gian qua là chưa đủ để bứt phá vươn lên. Do đó, trên cơ sở kết quả bảng điểm và các chỉ số thành phần PCI, Quảng Ngãi cần tiếp tục học hỏi kinh nghiệm, cách làm hay từ các tỉnh, thành phố để áp dụng, nhằm năng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh.
Về chỉ số PAPI, Quảng Ngãi là 1 trong 8 địa phương có chỉ số nội dung của PAPI năm 2019 cao nhất cả nước. Đó là chỉ số “trách nhiệm giải trình” với số điểm 5,59 điểm. Tuy nhiên, Quảng Ngãi lại nằm trong những địa phương có tổng số điểm chỉ số PAPI thấp nhất, với 41,18 điểm. Cụ thể, Quảng Ngãi có chỉ số "tham gia của người dân ở cấp cơ sở" đạt 4,59 điểm; chỉ số "công khai minh bạch" đạt 5,06 điểm; chỉ số "kiểm soát tham nhũng trong khu vực công" đạt 6,72; chỉ số "thủ tục hành chính công" đạt 6,97 điểm; chỉ số "cung ứng dịch vụ công" đạt 6,88 điểm; chỉ số "quản trị môi trường" đạt 3,31 điểm; chỉ số "quản trị điện tử" đạt 2,05 điểm.
Về kết quả xếp hạng PAR INDEX, thứ hạng của Quảng Ngãi có xu hướng tụt lùi và nằm ở tốp cuối từ năm 2013 - 2019. Từ năm 2018, khi tỉnh đưa vào hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, đã cải thiện đáng kể yêu cầu về TTHC ở các cơ quan, sở, ngành của tỉnh, với tỷ lệ giải quyết hồ sơ TTHC đúng hạn trên 95%, đáp ứng yêu cầu cũng như sự hài lòng của người dân. Tuy nhiên, so với các tỉnh, thành khác thì sự cải thiện này là chưa nhiều. Theo đó, năm 2019, nhìn chung các chỉ số thành phần ở các tỉnh, thành đều có sự cải thiện về giá trị trung bình. Theo đó, 7/8 chỉ số thành phần có giá trị trung bình tăng cao hơn so với năm 2018. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, năm 2019 có 5/8 chỉ số thành phần đạt giá trị trung bình trên 80%, trong khi đó, năm 2018 chỉ có 3 chỉ số thành phần đạt nhóm này./.
Võ Huy Hùng