Bình Phước là tỉnh thuộc vùng chuyển tiếp của Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên, khoáng sản phong phú, an ninh, chính trị ổn định. Bình Phước được xem là thị trường tiềm năng và là cầu nối quan trọng của Vùng với Campuchia, Lào, Thái Lan và khu vực Tây Nguyên của Việt Nam với trên 260km đường biên, 01 cửa khẩu quốc tế, 02 cửa khẩu quốc gia, cách Thành phố Hồ Chí Minh 110km. Trong quy hoạch, tuyến đường sắt xuyên Á, đi qua tỉnh Bình Phước (Sài Gòn – Lộc Ninh), nối liến 28 quốc gia, được đánh giá là một trong dự án giao thông chủ yếu của ASEAN nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa và du lịch của các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, tuyến đường sắt nối Bình Phước và cảng biển ở khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu, kết nối thêm tới Đắk Nông là tuyến đường quan trọng trong vận chuyển khoáng sản và nông – lâm sản từ Bình Phước xuống các cảng biển ở Đông Nam bộ phục vụ xuất khẩu. Quyết định số 518/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch tỉnh Bình Phước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đưa ra mục tiêu “Phát huy mọi tiềm năng, lợi thế, nguồn lực và yếu tố con người để đưa Bình Phước phát triển nhanh, toàn diện và bền vững. Đến năm 2030, Bình Phước trở thành tỉnh công nghiệp, quy mô GRDP đứng trong nhóm 15 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước; đến năm 2050, trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, phát triển toàn diện, bền vững.”.
Năm 2019, kinh tế của tỉnh Bình Phước tiếp tục chuyển biến tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP đạt 39.653,4 tỷ đồng, tăng 8,48% so với năm 2018 (kế hoạch năm từ 7,3-7,5%), cao hơn bình quân cả nước (tăng trưởng cả nước 6,8%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Đến cuối năm 2019, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, thủy sản chiếm 21,4%; công nghiệp, xây dựng chiếm 40,42%; dịch vụ chiếm 38,18%. GRDP bình quân đầu người ước đạt 62,01 triệu đồng/người/năm, tăng 12,36% so với cùng kỳ năm 2018. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện năm 2019 là 9.054 tỷ đồng, tăng 9,36% so với năm 2018.
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019 của Bình Phước đạt 62,21 điểm, đứng thứ 61/63 tỉnh, thành phố, giữ nguyên thứ hạng và nằm trong nhóm Trung Bình.
I. Về tình hình đăng ký doanh nghiệp tại tỉnh Bình Phước
1. Tình hình doanh nghiệp đang hoạt động:
Tính đến tháng 7/2020, tỉnh Bình Phước có 5.424 doanh nghiệp đang hoạt động, cả nước có 785.947 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 0,7% cả nước).
Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2020, bình quân cả nước năm 2019 có 7,9 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân. Có 8/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân cao hơn bình quân cả nước, cụ thể: (1) Thành phố Hồ Chí Minh có 26,5 doanh nghiệp; (2) Đà Nẵng có 19,8 doanh nghiệp; (3) Hà Nội có 19,3 doanh nghiệp; (4) Bình Dương có 12,9 doanh nghiệp; (5) Hải Phòng có 9,8 doanh nghiệp; (6) Khánh Hòa có 9,0 doanh nghiệp; (7) Bà Rịa - Vũng Tàu có 8,8 doanh nghiệp và (8) Bắc Ninh có 8,2 doanh nghiệp. Bình Phước có 5,1 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân, thấp hơn so với bình quân cả nước.
Cũng theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2020, bình quân cả nước năm 2019 có 15,4 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân trong độ tuổi lao động. Có 9/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân trong độ tuổi lao động cao hơn bình quân cả nước, cụ thể: (1) Thành phố Hồ Chí Minh có 54,4 doanh nghiệp; (2) Hà Nội có 43,0 doanh nghiệp; (3) Đà Nẵng có 40,1 doanh nghiệp; (4) Bình Dương có 21,3 doanh nghiệp; (5) Hải Phòng có 20,5 doanh nghiệp; (6) Bà Rịa - Vũng Tàu có 17,4 doanh nghiệp; (7) Khánh Hòa và Bắc Ninh cùng có 17,2 doanh nghiệp; (9) Cần Thơ có 15,6 doanh nghiệp. Bình Phước có 9,4 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân trong độ tuổi lao động (thấp hơn mức trung bình của cả nước).
2. Về doanh nghiệp thành lập mới:
Tình hình đăng ký doanh nghiệp tại Bình Phước 7 tháng đầu năm có nhiều tín hiệu tích cực, bất chấp ảnh hưởng những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19.
Trong 7 tháng đầu năm 2020, Bình Phước có 676 doanh nghiệp thành lập mới (chiếm 2,2% khu vực Đông Nam Bộ, chiếm 0,9% cả nước) với số vốn đăng ký đạt 9.117 tỷ đồng (chiếm 2,0% khu vực và chiếm 1,0% cả nước), tăng 6,5% về số doanh nghiệp và tăng 36,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2019. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới tại Bình Phước là 21.406 (chiếm 12,3% khu vực và chiếm 3,6% cả nước), tăng 121,3% so với cùng kỳ năm 2019. (Cả nước có 75.249 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 936.386 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 598.600 người, giảm 5,1% về số doanh nghiệp, giảm 6,3% về số vốn và giảm 20,0% về số lao động đăng ký so với cùng kỳ năm 2019).
3. Về doanh nghiệp quay trở lại hoạt động:
Tại Bình Phước, trong 7 tháng đầu năm 2020 có 252 doanh nghiệp quay lại hoạt động (chiếm 2,5% khu vực và chiếm 0,9% cả nước), tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước. (Cả nước có 28.564 doanh nghiệp quay lại hoạt động, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2019).
4. Về doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp giải thể, chờ giải thể và doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký:
Theo số liệu của Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong 7 tháng đầu năm 2020, tại Bình Phước có: 217 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 1,9% khu vực và chiếm 0,7% cả nước), tăng 2 9,2% so với cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 32.722 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 41,5% so cùng kỳ 2019); 134 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể (chiếm 1,5% khu vực và chiếm 0,6% cả nước), tăng 91,4% so với cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 21.802 doanh nghiệp tạm ngừng chờ giải thể, giảm 12,2% so cùng kỳ 2019); và 60 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (chiếm 1,5% khu vực và chiếm 0,7% cả nước), tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 8.937doanh nghiệp giải thể, giảm 3,5% so với cùng kỳ 2019).
Ngoài ra, theo số liệu của Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong 7 tháng đầu năm 2020, tại Bình Phước có 201 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký tăng 89,6% so cùng kỳ năm 2019 (cả nước có 26.652 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 26,8% so cùng kỳ 2019). Đề nghị tỉnh có chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Cục Thuế và cơ quan Công an rà soát để có đề xuất xử lý nhóm doanh nghiệp này.
II. Về tình hình cải cách TTHC, cải thiện môi trường kinh doanh
- Nhìn chung, tình hình giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) về đăng ký doanh nghiệp tại Bình Phước được xử lý tương đối tốt. Cụ thể trong năm 2019: thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập mới là 1,29 ngày, nhanh hơn so với quy định tại Luật Doanh nghiệp (03 ngày làm việc); tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn đạt 99,87% trên mức trung bình cả nước là 98,36%. Bình Phước cũng đã bắt đầu triển khai việc áp dụng phương thức đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử với tỷ lệ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được thực hiện bằng phương thức này đạt 21,39%, thấp hơn mức trung bình của cả nước là 70,7%.
- Về chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Bình Phước đứng ở vị trí 61/63 tỉnh, thành với 62,21 điểm, tăng hơn 2,19 điểm và giữ nguyên thứ bậc so với năm 2018 (có 6 chỉ số tăng và 4 chỉ số giảm). Nguyên nhân dẫn đến sụt giảm một số chỉ số trong các chỉ số thành phần PCI của tỉnh trong thời gian qua là do ý thức trách nhiệm và thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa cao. Chi phí không chính thức trong một số lĩnh vực có xu hướng tăng so với năm 2018, chi phí thời gian, gia nhập thị trường còn nhiều rào cản.
- Năm 2019, chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) của Bình Phước đạt 43,82 điểm xếp vị trí 20/63 tỉnh, thành phố và nằm trong nhóm 16 tỉnh có điểm số Trung bình cao.
- Tại Báo cáo chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2019, Bình Phước đạt 80,79%, xếp hạng 37/63, thuộc nhóm B (nhóm trung bình, gồm 43 tỉnh, thành phố).
Trong bối cảnh đất nước đang kiểm soát tốt dịch bệnh cũng như được đánh giá là một trong những nền kinh tế năng động, có tốc độ phát triển nhanh nhất trong khu vực ASEAN, thì việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh là rất quan trọng đối với mỗi địa phương. Do vậy, trong thời gian tới, chính quyền tỉnh cần quyết liệt hơn, thực hiện hiệu quả hơn các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để tăng tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư, khai thác tối đa các tiềm năng sẵn có để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Phạm Văn Thiện