Một số kinh nghiệm quốc tế trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập

Thứ năm, 16/08/2018 11:26 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

Trong những năm vừa qua, các cơ quan nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp trong công tác quản lý doanh nghiệp. Nhìn chung, các giải pháp đều tập trung hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý nhà nước nhằm ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả công tác “hậu kiểm” đối với doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, tình trạng vi phạm của doanh nghiệp còn phổ biến (mua bán khống hóa đơn, chậm thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp…), có lĩnh vực vi phạm khá nghiêm trọng ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội (như vấn đề an toàn lao động, chất lượng thực phẩm, bảo vệ môi trường...).

Trong nhiều nguyên nhân, có hai nguyên nhân khá quan trọng cần lưu ý: một là, hệ thống quy định về giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh còn phức tạp, không rõ ràng, nhiều quy định không thực sự cần thiết… dẫn tới doanh nghiệp muốn thực hiện đúng quy định cũng rất khó khăn, từ đó phát sinh sai phạm; hai là, bộ máy các cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp còn chồng chéo chức năng, thiếu sự cải tiến, đổi mới trong tổ chức và hoạt động để phù hợp với yêu cầu phát triển. Do vậy, tìm hiểu thêm về kinh nghiệm quốc tế đối với vấn đề cách cách hệ thống giấy phép kinh doanh, cũng như, kinh nghiệm về cải cách bộ máy cơ quan hành chính nhà nước liên quan tới quản lý doanh nghiệp sẽ góp phần gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc về cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, để thực hiện mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, giải phóng nền kinh tế trong nước khỏi các quy định hành chính rườm rà, chính phủ Hàn Quốc tập trung cải cách hệ thống pháp lý điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như việc cấp giấy phép kinh doanh. Bốn lĩnh vực chính được cải cách là:  tài chính – ngân hàng, thị trường lao động, tập đoàn kinh tế và khu vực kinh tế tư nhân. Đích thân Tổng thống Hàn quốc đã ra Sắc lệnh phải bãi bỏ tối thiểu 50% các quy định khi đó và có hiệu lực đối với mọi cơ quan nhà nước.

Chính phủ Hàn Quốc giao một cơ quan làm đầu mối trong việc ban hành các nguyên tắc cơ bản về chính sách, xây dựng và thực hiện kế hoạch cải cách hành chính một cách tổng thể; rà soát, đánh giá toàn bộ quy định, giấy phép đang tồn tại; nghiên cứu, đánh giá tất cả các quy định, giấy phép mới dự định ban hành; có quyền phủ quyết hoặc thông qua các quy định mới hoặc duy trì các quy định hiện có do các cơ quan nhà nước ban hành.

Sự khác biệt lớn của cuộc cải cách từ năm 1998 so với giai đoạn trước là phương pháp cải cách được thực hiện từ trên xuống. Các cơ quan nhà nước tiến hành rà soát lại tất cả các quy định, giấy phép và phải chứng minh được tính cần thiết và hợp lý của từng quy định, giấy phép hiện hành. Hơn nữa, đối với các quy định và giấy phép mới dự định ban hành thì phải đi kèm “bản phân tích tác động” nhằm đảm bảo tính khả thi cũng như chất lượng của quy định mới. Việc bãi bỏ các quy định, giấy phép không cần thiết được tiến hành triệt để cũng như việc ban hành các quy định, giấy phép mới được kiểm soát chặt chẽ.

Kết quả đạt được: Về mặt luật pháp: năm 1999, tổng số các quy định hành chính từ 11.125 quy định giảm xuống còn khoảng 6.300 quy định, 2.411 quy định được sửa đổi, hoàn thiện.

Về mặt kinh tế: tác động tích cực của quá trình cải cách trong năm năm (1998-2003) đến nền kinh tế Hàn Quốc là đã tạo thêm hơn 1 triệu việc làm; giảm chi phí cho khu vực tư nhân khoản 18,7 nghìn tỷ won (tương đương 15,5 tỷ đôla Mỹ); đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 36,5 tỷ đôla Mỹ; đóng góp vào tăng trưởng thực của GDP hàng năm là 0,64%; chỉ số CPI và tỷ lệ thất nghiệp đều giảm…

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn mà cuộc cải cách đem lại, còn tồn tại một số hạn chế như: Cuộc cải cách của Hàn Quốc chỉ mới tập trung vào những thay đổi về luật pháp, chưa thực sự có những cải cách sâu rộng, đầy đủ đến các khía cạnh khác của xã hội. Một số quy định quan trọng được bãi bỏ mà chưa đưa ra được những biện pháp quản lý mới hợp lý thay thế, tạo ra kẽ hở để các “nhóm lợi ích” lợi dụng… Tuy nhiên, đây là những hạn chế tất yếu không thể tránh được của công cuộc cải cách bởi theo các chuyên gia đánh giá thì những lợi ích của cuộc cải cách đem lại còn lớn hơn rất nhiều.

Một trong những hệ quả của công cuộc cải cách giấy phép là việc tuân thủ của doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn, không còn hiện tượng có quá nhiều quy định không thực sự cần thiết phải tuân thủ, từ đó góp phần giảm số lượng các vi phạm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

Kinh nghiệm của Trung Quốc về cải cách bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Giai đoạn 1995-1998: Nhiệm vụ chủ yếu của cuộc đổi mới là tách dần quản lý hành chính nhà nước và quản lý doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; điều chỉnh chức năng quản lý của bộ máy hành chính nhà nước, nhất là trong quan hệ với doanh nghiệp. Trọng tâm của cuộc đổi mới là tăng cường sự điều tiết, giám sát tầm vĩ mô của các cơ quan, ban, ngành, nâng cao khả năng quản lý xã hội của các cơ quan chức năng, giảm thiểu sự phê duyệt và quản lý trực tiếp đối với các xí nghiệp và các đoàn thể.

Giai đoạn 1998-2002: cải cách bộ máy hành chính nhà nước các cấp được tiến hành trên quy mô lớn, phương thức hoạt động của các đoàn thể, cải cách các cơ quan lập pháp và tư pháp. Trọng tâm cuộc cải cách lần này là điều chỉnh và xóa bỏ sự quản lý trực tiếp của các cơ quan chuyên môn, tăng cường khả năng điều khiển, giám sát tầm vĩ mô của các ban, ngành. Dựa trên nhu cầu thống nhất về quyền lực để điều chỉnh quyền hạn, phân công rõ ràng chức trách của các cơ quan ban, ngành. Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã giảm 900 trên tổng số 2000 cơ cấu tổ chức ở cấp 4 cấp chính quyền; giảm 50% biên chế bộ máy hành chính.

Giai đoạn từ cuối 2003 trở đi: Phát huy kết quả các giai đoạn trước, đưa cải cách đi vào chiều sâu để thực sự thay đổi chức năng của chính quyền theo phương châm: biến từ chính quyền vô hạn (cái gì cũng làm) sang chính quyền hữu hạn (quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng đích thực là quản lý hành chính nhà nước). Các nhiệm vụ chính được đề ra là: 1) Cải cách cơ chế quản lý tài sản công; lập cơ quan quản lý công sản để triệt để tách chức năng quản lý hành chính của cơ quan công quyền với quản lý của các doanh nghiệp nhà nước. 2) Đổi mới cơ chế điều tiết vĩ mô thông qua chính sách phát triển; thành lập cơ quan hợp tác và giao lưu khu vực để thực hiện chức năng phối hợp phát triển. 3) Đẩy mạnh Chương trình tin học hoá, từng bước xây dựng Chính phủ điện tử. 4) Xác định lại sự phân công và cơ cấu tổ chức, biên chế của từng bộ, ngành căn cứ vào chức năng mới.

Phương châm đổi mới chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ được xác định là: quản lý vĩ mô, giám sát thị trường, quản lý xã hội và phục vụ công cộng (dịch vụ công). Theo đó, có 07 lĩnh vực Chính phủ Trung Quốc tập trung quản lý là quốc phòng, ngoại giao, chính sách tài chính, ngân hàng, điện lực, thông tin, đường sắt. Các lĩnh vực còn lại thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương.

Về chương trình tin học hoá và xây dựng Chính phủ điện tử: các bộ, ngành đều đã xây dựng được mạng nội bộ. Giao dịch bằng điện tử đã được thực hiện giữa các bộ với các tỉnh, khu tự trị trực thuộc Trung ương. Các bộ, các tỉnh và khu tự trị cũng xây dựng được trang Web riêng. Ở một số khu vực kinh tế phát triển và đô thị thì những dịch vụ hành chính công chủ yếu như đăng ký thuế, hải quan… đã thực hiện thông qua mạng điện tử.

Nhờ những cải cách mạnh về bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý doanh nghiệp cũng được nâng cao, tư duy quản lý đã chuyển mạnh sang hướng dẫn, hỗ trợ phát triển, từ đó cơ quan nhà nước đồng hành để doanh nghiệp cùng nhận thức, giảm thiểu các vi phạm trong quá trình hoạt động.

Từ kinh nghiệm quốc tế về cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh và cải cách các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, có thể rút ra một số hàm ý chính sách góp phần đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập ở nước ta như sau:

Thứ nhất, cần thực hiện quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, rà soát để bãi bỏ các thủ tục, điều kiện kinh doanh không cần thiết, đơn giản hóa việc thực hiện thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các điều kiện kinh doanh mới.

Thứ hai, cần tạo môi trường thuận lợi khuyến khích người dân và các thành phần kinh tế tham gia giám sát hoạt động của doanh nghiệp cũng như giám sát việc thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp của bộ máy quản lý nhà nước.

Thứ ba, mọi ý kiến, vướng mắc của cá nhân, tổ chức đối với doanh nghiệp khi chuyển đến các cơ quan nhà nước cần phải được tiếp thu, trả lời công khai, minh bạch, đảm bảo nguyên tắc luôn có một cơ quan nhà nước cụ thể chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề.

Thứ tư, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong việc quản lý hành chính nhà nước, đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử là công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện xóa bỏ tiền kiểm, đặt trọng tâm của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vào giai đoạn sau khi thành lập.

Thứ sáu, đổi mới công tác xây dựng pháp luật theo hướng phân công nhiệm vụ cho các bộ, cơ quan ngang bộ một cách rõ ràng, cụ thể hơn.

Đỗ Tiến Thịnh

 

 

Lượt xem: 3863

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử