1. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 3 tháng đầu năm 2018
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 3 tháng đầu năm 2018 là 8.449 doanh nghiệp, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong tổng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động có 3.706 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 43,86%; có 2.564 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 30,35%; có 828 doanh nghiệp tư nhân chiếm 9,80%; có 1.348 công ty cổ phần chiếm 15,95% và có 03 công ty hợp danh chiếm 0,04%.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 1. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo vùng lãnh thổ

Tại Bảng 1 cho thấy, trong 3 tháng đầu năm 2018, vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều nhất là 3.235 doanh nghiệp, chiếm 38,3%; đứng thứ hai là vùng Đồng bằng Sông Hồng có 2.230 doanh nghiệp, chiếm 26,4%. Các vùng còn lại có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động ít hơn, trong đó vùng Tây Nguyên có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động thấp nhất là 323 doanh nghiệp, chiếm 3,8%. Bên cạnh đó, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung phần lớn ở thành phố Hồ Chí Minh có 2.492 doanh nghiệp, chiếm 77,0%; thành phố Hà Nội có 1.277 doanh nghiệp, chiếm 57,3% trên tổng số doanh nghiệp trong khu vực.
Cũng trong 3 tháng qua, tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đều có xu hướng giảm trên cả nước so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, chỉ có khu vực Tây Nguyên là có mức gia tăng với tỷ lệ 10,6%.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 2. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Qua số liệu tại Bảng 2 cho thấy, lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 3 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung ở các ngành như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 3.223 doanh nghiệp, chiếm 38,1%; Xây dựng có 1.287 doanh nghiệp, chiếm 15,2%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.087 doanh nghiệp, chiếm 12,9%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 429 doanh nghiệp và Vận tải kho bãi có 435 doanh nghiệp, cùng chiếm 5,1%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 405 doanh nghiệp, chiếm 4,8%;...
Về tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, trong 3 tháng qua chỉ có 4 ngành tăng so với cùng kỳ năm 2017, cụ thể: Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 28 doanh nghiệp, tăng 40,0%; tiếp đó là Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 240 doanh nghiệp, tăng 20,6%; Giáo dục và đào tạo có 156 doanh nghiệp, tăng 9,1% và Thông tin và truyền thông có 201 doanh nghiệp, tăng 4,7%. Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm so với cùng kỳ năm ngoái.
2. Tình hình doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 3 tháng đầu năm 2018
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn của cả nước là 12.222 doanh nghiệp, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm 2017. Số doanh nghiệp này sau khi kết thúc thời hạn tạm ngừng sẽ quay trở lại tình trạng hoạt động kinh doanh.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn có 5.501 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 45,01%; có 3.655 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 29,91%; có 1.049 doanh nghiệp tư nhân chiếm 8,58%; có 2.016 công ty cổ phần chiếm 16,49% và có 01 công ty hợp danh chiếm 0,01%.
- Theo quy mô vốn:
Bảng 3. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Theo số liệu thống kê tại Bảng 3, trong 3 tháng qua các quy mô vốn đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ tăng lớn nhất là 117,2% với 63 doanh nghiệp; tiếp đến là từ 50-100 tỷ đồng có 75 doanh nghiệp, tăng 36,4%; từ 10-20 tỷ đồng có 406 doanh nghiệp, tăng 29,3%; từ 0-10 tỷ đồng có 11.469 doanh nghiệp, tăng 22,5% và từ 20-50 tỷ đồng có 209 doanh nghiệp, tăng 16,8%.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 4. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

Trong 3 tháng đầu năm 2018, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung phần lớn ở vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, chiếm tỷ trọng lần lượt là 31,5% và 31,1% so với cả nước. Trong khi đó, vùng Tây Nguyên tiếp tục có lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ít nhất so với các vùng khác, chiếm 3,8% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.
Cũng theo số liệu thống kê tại Bảng 4, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 3 tháng qua tăng ở tất cả các vùng so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có tỷ lệ tạm ngừng kinh doanh lớn nhất là 34,7% với 2.587 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; Trung du và miền núi phía Bắc có 688 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 30,6%; Đồng bằng Sông Hồng có 3.851 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 29,2%; Tây Nguyên có 470 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 19,9%; Đồng bằng Sông Cửu Long có 821 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 15,5% và Đông Nam Bộ có 3.805 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 11,6%.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 5. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

Số liệu thống kê tại Bảng 5 cho thấy, trong 3 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 4.733 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 38,7%; Xây dựng có 1.862 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 15,2%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.561 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 12,8%; Vận tải kho bãi có 721 doanh nghiệp, chiếm 5,9%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 714 doanh nghiệp, chiếm 5,8%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 626 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,1%;...
Cũng trong 3 tháng đầu năm nay, hầu hết các ngành đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, duy nhất ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là giảm, tuy nhiên mức độ giảm cũng chỉ đạt ở mức thấp với 3,7%.
3. Tình hình doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể trong 3 tháng đầu năm 2018
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể của cả nước là 8.115 doanh nghiệp, giảm 24,1% so với cùng kỳ năm trước.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể có 4.116 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 50,7%; có 2.021 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 24,9%; có452 doanh nghiệp tư nhân chiếm 5,6%; có 1.526 công ty cổ phần chiếm 18,8% và có 0 công ty hợp danh.
- Theo quy mô vốn:
Bảng 6. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Theo số liệu thống kê tại Bảng 6, trong 3 tháng qua tất cả các quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký có dấu hiệu giảm so với cùng kỳ năm ngoái, gồm: quy mô vốn đăng ký từ 20-50 tỷ đồng có tỷ lệ giảm sâu nhất là 26,1% với 212 doanh nghiệp; tiếp đó là từ 0-10 tỷ đồng có 7.362 doanh nghiệp, giảm 24,7%; trên 100 tỷ đồng có 76 doanh nghiệp, giảm 22,4%; từ 10-20 tỷ đồng có 351 doanh nghiệp, giảm 14,0% và từ 50-100 tỷ đồng có 114 doanh nghiệp, giảm 9,5%.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 7. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

Trong 3 tháng đầu năm 2018, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 463 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 41,8%; Đồng bằng Sông Hồng có 2.497 doanh nghiệp, giảm 32,3%;Đông Nam Bộ có 3.272 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 26,5%; Tây Nguyên có 224 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 22,0% và Trung du và miền núi phía Bắc có 288 doanh nghiệp, giảm 10,8%; duy nhất, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 1.371 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 19,1%. Còn về mặt số lượng, trong thời gian qua doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung phần lớn ở khu vực Đông Nam Bộ chiếm 40,3% và khu vực Đồng bằng Sông Hồng chiếm 30,8% so với tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động của cả nước.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 8. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

So sánh số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giữa các ngành nghề, thì doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 2.971 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,6%; Xây dựng có 1.097 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 13,5%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 971 doanh nghiệp, chiếm 12,0%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 480 doanh nghiệp, chiếm 5,9%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 453 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,6%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 406 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,0%;...
Cũng theo số liệu thống kê tại Bảng 8 cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm 2018 tăng ở 05 ngành so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: ngành Kinh doanh bất động sản có 197 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 23,1%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 182 doanh nghiệp, tăng 12,3%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 38 doanh nghiệp, tăng 11,8%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 124 doanh nghiệp, tăng 10,7% và Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 480 doanh nghiệp, tăng 8,6%;... Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ năm 2017.
4. Tình hình doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 3 tháng đầu năm 2018
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 3 tháng đầu năm 2018 của cả nước là 3.321 doanh nghiệp, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2017.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước có 1.508 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 45,41%; có 932 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 28,06%; có 435 doanh nghiệp tư nhân chiếm 13,10%; có 445 công ty cổ phần chiếm 13,40% và có 01 công ty hợp danh chiếm 0,03%.
- Theo quy mô vốn:
Bảng 9. Số doanh nghiệp giải thể theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Qua số liệu tại Bảng 9 cho thấy, trong 3 tháng qua, chỉ có quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký từ 20-50 tỷ đồng là có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm 2017. Các quy mô vốn còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có 49 doanh nghiệp, tăng 32,4%; từ 10-20 tỷ đồng có 137 doanh nghiệp, tăng 30,5%; từ 50-100 tỷ đồng có 37 doanh nghiệp, tăng 12,1% và từ 0-10 tỷ đồng có 3.038 doanh nghiệp, tăng 1,0%. Có thể thấy, số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,5% trên tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 10. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo vùng lãnh thổ

Xét về số lượng, trong 3 tháng đầu năm, số doanh nghiệp giải thể chủ yếu là ở những vùng như Đông Nam Bộ có 1.317 doanh nghiệp, chiếm 39,7% và Đồng bằng Sông Hồng có 657 doanh nghiệp, chiếm 19,8%.
Về tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký giải thể trong 3 tháng qua so với cùng kỳ năm 2017 chỉ giảm ở 02 vùng là Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long. Các khu vực khác đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, xét về số lượng, vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp giải thể nhiều nhất nhưng xét về tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp giải thể so với cùng kỳ năm ngoái thì vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các vùng khác.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 11. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo lĩnh vực hoạt động

Số liệu tại Bảng 11 cho thấy, số doanh nghiệp giải thể tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 1.313 doanh nghiệp, chiếm 39,5%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 433 doanh nghiệp, chiếm 13,0%; Xây dựng có 325 doanh nghiệp, chiếm 9,8%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 204 doanh nghiệp, chiếm 6,1%;...
Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp giải thể trong 3 tháng qua giảm ở 07 ngành so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 82 doanh nghiệp, giảm 44,6%; Sản xuất phân phối điện, nước, ga có 16 doanh nghiệp, giảm 40,7%; Khai khoáng có 29 doanh nghiệp, giảm 38,3%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 16 doanh nghiệp, giảm 23,8%; Vận tải kho bãi có 134 doanh nghiệp, giảm 23,4%; Xây dựng có 325 doanh nghiệp, giảm 19,6%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 57 doanh nghiệp, giảm 6,6%. Các ngành, nghề còn lại đều có số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2017.
PHỤ LỤC: DOANH NGHIỆP TẠM NGỪNG KINH DOANH, TẠM NGỪNG HOẠT ĐỘNG, GIẢI THỂ PHÂN THEO
ĐỊA PHƯƠNG 3 THÁNG NĂM 2018

Lê Thị Thu Hải
Cục Quản lý đăng ký kinh doanh