TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP QUAY TRỞ LẠI HOẠT ĐỘNG, TẠM NGỪNG VÀ GIẢI THỂ THÁNG 02 VÀ 02 THÁNG NĂM 2018

Thứ tư, 28/02/2018 14:54 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

1. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 02 tháng đầu năm 2018

- Về tình hình chung:  

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 02 tháng đầu năm 2018 là 6.878 doanh nghiệp, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước. 

- Theo loi hình doanh nghip:

Trong tổng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động có 2.866 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 41,67%; có 2.145 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 31,19%; có 731 doanh nghiệp tư nhân chiếm 10,63%; có 1.133 công ty cổ phần chiếm 16,47% và có 03 công ty hợp danh chiếm 0,04%. 

- Theo quy mô vốn:

Bảng 1. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)  

 

Theo số liệu thống kê tại Bảng 1, trong 02 tháng qua các quy mô vốn đều có tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm so với cùng kỳ năm 2017, cụ thể: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ giảm nhiều nhất là 51,2% với 40 doanh nghiệp; tiếp đến là từ 50-100 tỷ đồng có 50 doanh nghiệp, giảm 35,1%; từ 10-20 tỷ đồng có 258 doanh nghiệp, giảm 24,6%; từ 20-50 tỷ đồng có 162 doanh nghiệp, giảm 16,5% và từ 0-10 tỷ đồng có 6.368 doanh nghiệp, giảm 12,6%.

- Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 2. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo vùng lãnh thổ 

 

Tại Bảng 2 cho thấy, trong 02 tháng đầu năm 2018, vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều nhất là 2.294 doanh nghiệp, chiếm 33,4%; đứng thứ hai là vùng Đồng bằng Sông Hồng có 1.946 doanh nghiệp, chiếm 28,3%. Các vùng còn lại có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động ít hơn, trong đó vùng Tây Nguyên có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động thấp nhất là 260 doanh nghiệp, chiếm 3,8%. Bên cạnh đó, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung phần lớn ở thành phố Hồ Chí Minh có 1.692 doanh nghiệp, chiếm 73,7%; thành phố Hà Nội có 863 doanh nghiệp, chiếm 44,3% trên tổng số doanh nghiệp trong khu vực.

Cũng trong tháng này, tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đều có xu hướng giảm trên cả nước so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, chỉ có Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên là vùng có mức gia tăng với tỷ lệ lần lượt là 36,5%, 3,2%.

- Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 3. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

 

Qua số liệu tại Bảng 3 cho thấy, lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 02 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung ở các ngành như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 2.613 doanh nghiệp, chiếm 38,0%; Xây dựng có 1.074 doanh nghiệp, chiếm 15,6%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 901 doanh nghiệp, chiếm 13,1%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 360 doanh nghiệp, chiếm 5,2%; Vận tải kho bãi có 358 doanh nghiệp, chiếm 5,2%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 334 doanh nghiệp, chiếm 4,9%;...  

Về tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, trong tháng qua chỉ có 03 ngành tăng so với cùng kỳ năm 2017, cụ thể: Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 25 doanh nghiệp, tăng 31,6%; tiếp đó là Giáo dục và đào tạo có 129 doanh nghiệp, tăng 8,4%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 184 doanh nghiệp, tăng 6,4%. Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm so với cùng kỳ năm ngoái.      

2. Tình hình doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 02 tháng đầu năm 2018   

- Về tình hình chung:  

Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn của cả nước là 11.191 doanh nghiệp, tăng 29,0% so với cùng kỳ năm 2017. Số doanh nghiệp này sau khi kết thúc thời hạn tạm ngừng sẽ quay trở lại tình trạng hoạt động kinh doanh.       

- Theo loại hình doanh nghiệp:

Trong số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn có 5.046 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 45,09%; có 3.336 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 29,81%; có 962 doanh nghiệp tư nhân chiếm 8,6%; có 1.846 công ty cổ phần chiếm 16,5% và có 01 công ty hợp danh chiếm 0,01%.    

- Theo quy mô vốn:

Bảng 4. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)  

 

Theo số liệu thống kê tại Bảng 4, trong 02 tháng qua các quy mô vốn đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ tăng lớn nhất là 96,4% với 55 doanh nghiệp; tiếp đến là từ 50-100 tỷ đồng có 63 doanh nghiệp, tăng 37,0%; từ 10-20 tỷ đồng có 353 doanh nghiệp, tăng 34,2%; từ 0-10 tỷ đồng có 10.541 doanh nghiệp, tăng 28,8% và từ 20-50 tỷ đồng có 179 doanh nghiệp, tăng 15,5%.

- Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 5. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

 

Trong 02 tháng đầu năm 2018, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung phần lớn ở vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, chiếm tỷ trọng lần lượt là 31,2% và 30,6% so với cả nước. Trong khi đó, vùng Tây Nguyên có lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ít nhất so với các vùng khác, chiếm 4,0% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.

Cũng theo số liệu thống kê tại Bảng 5, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong tháng này tăng ở tất cả các vùng so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ tạm ngừng kinh doanh lớn nhất là 42,6% với 633 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 2.426 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 41,0%; Đồng bằng Sông Hồng có 3.491 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 36,8%; Tây Nguyên có 446 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 26,7%; Đồng bằng Sông Cửu Long có 772 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 18,8% và Đông Nam Bộ có 3.423 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 15,8%.    

- Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 6. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

 

Số liệu thống kê tại Bảng 6 cho thấy, trong 02 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 4.314 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 38,5%; Xây dựng có 1.738 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 15,5%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.431 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 23,3%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 667 doanh nghiệp, chiếm 6,0%; Vận tải kho bãi có 661 doanh nghiệp, chiếm 5,9%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 557 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,0%;... 

Trong tháng này, hầu hết các ngành đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, duy nhất ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là giảm, tuy nhiên mức độ giảm cũng chỉ đạt ở mức thấp với 0,5%. 

3. Tình hình doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể trong 02 tháng đầu năm 2018

- Về tình hình chung:  

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể của cả nước là 5.941 doanh nghiệp, giảm 23,1% so với cùng kỳ năm trước.  

- Theo loại hình doanh nghiệp:

Trong tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể có 3.071 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 51,7%; có 1.537 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 25,9%; có366 doanh nghiệp tư nhân chiếm 6,2%; có 967 công ty cổ phần chiếm 16,3% và có 0 công ty hợp danh.

- Theo quy mô vốn:

Bảng 7. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)  

 

Theo số liệu thống kê tại Bảng 7, trong 02 tháng qua tất cả các quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký có dấu hiệu giảm so với cùng kỳ năm ngoái, gồm: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ giảm sâu nhất là 32,9% với 49 doanh nghiệp; tiếp đó là từ 0-10 tỷ đồng có 5.416 doanh nghiệp, giảm 23,7%; từ 20-50 tỷ đồng có 150 doanh nghiệp, giảm 23,5%; từ 50-100 tỷ đồng có 82 doanh nghiệp, giảm 12,8% và từ 10-20 tỷ đồng có 244 doanh nghiệp, giảm 6,2%.    

- Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 8. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

 

Trong 02 tháng đầu năm 2018, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 332 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 46,8%; Đồng bằng Sông Hồng có 1.479 doanh nghiệp, giảm 35,7%;Đông Nam Bộ có 2.563 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 26,7% và Tây Nguyên có 183 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 15,3%. Ngược lại, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 1.158 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 33,4% và Trung du và miền núi phía Bắc có 226 doanh nghiệp, tăng 3,2%. Còn về mặt số lượng, trong năm qua doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung phần lớn ở khu vực Đông Nam Bộ chiếm 43,1% và khu vực Đồng bằng Sông Hồng chiếm 24,9% so với tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động của cả nước.

- Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 9. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

 

So sánh số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giữa các ngành nghề, thì doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 2.199 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 37,0%; Xây dựng có 769 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 12,9%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 709 doanh nghiệp, chiếm 11,9%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 375 doanh nghiệp, chiếm 6,3%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 319 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,4%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 308 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,2%;...       

Cũng theo số liệu thống kê tại Bảng 9 cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 02 tháng đầu năm 2018 tăng ở một số ngành so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: ngành Kinh doanh bất động sản có 152 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 39,4%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 375 doanh nghiệp, tăng 24,2%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 31 doanh nghiệp, tăng 24,0%;... riêng ngành Khai khoáng có số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không tăng cũng không giảm so với cùng kỳ năm 2017. Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ năm 2017.     

4. Tình hình doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 02 tháng đầu năm 2018

- Về tình hình chung:     

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 02 tháng đầu năm 2018 của cả nước là 2.529 doanh nghiệp, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2017.    

- Theo loại hình doanh nghiệp:

Tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước có 1.160 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 45,87%; có 701 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 27,72%; có 347 doanh nghiệp tư nhân chiếm 13,72%; có 320 công ty cổ phần chiếm 12,65% và có 01 công ty hợp danh chiếm 0,04%.

- Theo quy mô vốn:    

Bảng 10. Số doanh nghiệp giải thể theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

 

Qua số liệu tại Bảng 10 cho thấy, trong 02 tháng qua, chỉ có quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký từ 10-20 tỷ đồng và trên 100 tỷ đồng là có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2017. 3 quy mô vốn còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: quy mô vốn đăng ký từ 20-50 tỷ đồng có 48 doanh nghiệp, giảm 29,4%; từ 50-100 tỷ đồng có 25 doanh nghiệp, giảm 7,4% và từ 0-10 tỷ đồng có 2.320 doanh nghiệp, giảm 0,3%. Có thể thấy, số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,7% trên tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước.   

- Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 11. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo vùng lãnh thổ 

 

Xét về số lượng, trong 02 tháng đầu năm, số doanh nghiệp giải thể chủ yếu là ở những vùng như vùng Đông Nam Bộ có 974 doanh nghiệp, chiếm 38,5% và vùng Đồng bằng Sông Hồng có 476 doanh nghiệp, chiếm 18,8%.

Về tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký giải thể trong 02 tháng qua so với cùng kỳ năm 2017 chỉ giảm ở 02 vùng là Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long. Các khu vực khác đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, xét về số lượng vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp giải thể nhiều nhất nhưng xét về tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp giải thể so với cùng kỳ năm ngoái thì vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các vùng khác. 

- Theo lĩnh vực hoạt động:          

Bảng 12. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo lĩnh vực hoạt động

 

Số liệu tại Bảng 12 cho thấy, số doanh nghiệp giải thể tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 986 doanh nghiệp, chiếm 39,0%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 344 doanh nghiệp, chiếm 13,6%; Xây dựng có 242 doanh nghiệp, chiếm 9,6%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 164 doanh nghiệp, chiếm 6,5%;...

Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp giải thể trong 02 tháng qua giảm ở 07 ngành so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: Sản xuất phân phối điện, nước, ga có 10 doanh nghiệp, giảm 56,5%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 68 doanh nghiệp, giảm 45,6%; Khai khoáng có 26 doanh nghiệp, giảm 36,6%; Xây dựng có 242 doanh nghiệp, giảm 27,1%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 38 doanh nghiệp, giảm 22,4%; Vận tải kho bãi có 104 doanh nghiệp, giảm 16,8% và Thông tin và truyền thông có 74 doanh nghiệp, giảm 11,9%; duy nhất, ngành Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội là có số doanh nghiệp giải thể không tăng cũng không giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Các ngành, nghề còn lại đều có số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2017.

Nguyễn Thu Hà

Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Lượt xem: 4254

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử