1. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng đầu năm 2017
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng qua là 22.765 doanh nghiệp, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2016.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động có 9.191 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 40,373%; có 7.372 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 32,383%; có 2.180 doanh nghiệp tư nhân chiếm 9,576%; có 4.021 công ty cổ phần chiếm 17,663% và có 01 công ty hợp danh chiếm 0,004%.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 1. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo vùng lãnh thổ

Tại Bảng 1 cho thấy, trong 10 tháng đầu năm 2017, khu vực Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều nhất là 8.949 doanh nghiệp, chiếm 39,3%; đứng thứ hai là khu vực Đồng bằng Sông Hồng có 6.697 doanh nghiệp, chiếm 29,4%. Tại 2 khu vực này, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung phần lớn ở thành phố Hồ Chí Minh có 6.862 doanh nghiệp, chiếm 76,7% và thành phố Hà Nội có 4.066 doanh nghiệp, chiếm 60,7% trên tổng số doanh nghiệp trong khu vực. Các khu vực còn lại có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động ít hơn, trong đó khu vực Tây Nguyên có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động thấp nhất là 664 doanh nghiệp.
Cũng trong 10 tháng đầu năm nay, tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng ở một số khu vực so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 3.695 doanh nghiệp, tăng 13,4%; Đồng bằng Sông Hồng có 6.697 doanh nghiệp, tăng 9,6% và Trung du và miền núi phía Bắc có 1.020 doanh nghiệp, tăng 9,0%. Ở chiều ngược lại, khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long có 1.740 doanh nghiệp, giảm 20,3%; Tây Nguyên có 664 doanh nghiệp, giảm 4,0% và Đông Nam Bộ có 8.949 doanh nghiệp, giảm 3,8%.
Có thể thấy, xét về lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động thì khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng Sông Hồng vẫn chiếm số lượng lớn còn xét về tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động so với cùng kỳ năm 2016 thì khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung lại chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các khu vực khác.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 2. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Qua số liệu tại Bảng 2 cho thấy, lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng đầu năm 2017 chủ yếu tập trung ở các ngành như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 8.691 doanh nghiệp, chiếm 38,2%; Xây dựng có 3.445 doanh nghiệp, chiếm 15,1%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 2.957 doanh nghiệp, chiếm 13,0%; Vận tải kho bãi có 1.254 doanh nghiệp, chiếm 5,5%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 1.213 doanh nghiệp, chiếm 5,3%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 1.182 doanh nghiệp, chiếm 5,2%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 1.128 doanh nghiệp, chiếm 5,0%. Các ngành còn lại có quy mô doanh nghiệp quay trở lại hoạt động ít hơn 1000 doanh nghiệp.
Về tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, trong 10 tháng qua có 8 ngành giảm so với cùng kỳ năm 2016, cụ thể: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 210 doanh nghiệp, giảm 9,5%; Giáo dục và đào tạo có 358 doanh nghiệp, giảm 6,3%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 64 doanh nghiệp, giảm 5,9%; Khai khoáng có 244 doanh nghiệp, giảm 5,4%; Xây dựng có 3.445 doanh nghiệp, giảm 3,1%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 2.957 doanh nghiệp, giảm 2,9%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 1.128 doanh nghiệp, giảm 2,8% và cuối cùng là ngành Thông tin và truyền thông có 437 doanh nghiệp, giảm 1,4%. Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng so với cùng kỳ năm ngoái.
2. Tình hình doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn 10 tháng đầu năm 2017
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn của cả nước là 19.619 doanh nghiệp, tăng 11,6 % so với cùng kỳ năm 2016, số doanh nghiệp này sau khi kết thúc thời hạn tạm ngừng sẽ quay trở lại tình trạng hoạt động kinh doanh.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn có 8.301 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 42,31%; có 6.221 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 31,71%; có 1.724 doanh nghiệp tư nhân chiếm 8,79%; có 3.370 công ty cổ phần chiếm 17,18% và có 03 công ty hợp danh chiếm 0,02%.
- Theo quy mô vốn:
Bảng 3. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Theo số liệu thống kê tại Bảng 3, trong 10 tháng đầu năm chỉ có các doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng là có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh giảm so với cùng kỳ năm 2016. Các quy mô vốn đăng ký còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: quy mô vốn đăng ký từ 10-20 tỷ đồng có tỷ lệ tăng lớn nhất là 20,5% với 669 doanh nghiệp; tiếp đến là từ 50-100 tỷ đồng có 130 doanh nghiệp, tăng 17,1%; từ 20-50 tỷ đồng có 358 doanh nghiệp, tăng 15,9% và từ 0-10 tỷ đồng có 18.396 doanh nghiệp, tăng 11,3%. Như vậy, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tập trung phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,8% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 4. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

Trong 10 tháng đầu năm 2017, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung phần lớn ở vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng Sông Hồng, chiếm tỷ trọng lần lượt là 35,3% và 33,0% so với cả nước. Trong khi đó, vùng Tây Nguyên có lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ít nhất so với các vùng khác, chiếm 3,6% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.
So với cùng kỳ năm 2016, trong 10 tháng đầu năm, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng ở tất cả các vùng, bao gồm: vùng Tây Nguyên có tỷ lệ tạm ngừng kinh doanh lớn nhất là 26,8% với 700 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 3.453 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 13,9%; Trung du và miền núi phía Bắc có 947 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 13,7%; Đông Nam Bộ có 6.927 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 11,1%; Đồng bằng Sông Hồng có 6.471 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 9,7% và Đồng bằng Sông Cửu Long có 1.121 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 9,3%.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 5. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

Trong 10 tháng đầu năm nay, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 7.739 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 39,4%; Xây dựng có 2.901 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 14,8%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 2.569 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 13,1%; Vận tải kho bãi có 1.120 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,7%;...
Số liệu thống kê tại Bảng 5 cho thấy, trong 10 tháng đầu năm 2017, tất cả các ngành đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: ngành Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có tỷ lệ tăng nhiều nhất là 43,3% với 139 doanh nghiệp tạm ngừng; tiếp đến là Giáo dục và đào tạo có 311 doanh nghiệp tạm ngừng, tăng 22,0%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 998 doanh nghiệp tạm ngừng, tăng 21,6%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản có 371 doanh nghiệp tạm ngừng, tăng 21,2%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 52 doanh nghiệp tạm ngừng, tăng 20,9%;...
3. Tình hình doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể trong 10 tháng đầu năm 2017
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể của cả nước là 33.163 doanh nghiệp, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể có 14.690 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 44,296%; có 9.648 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 29,093%; có 2.365 doanh nghiệp tư nhân chiếm 7,131%; có 6.459 công ty cổ phần chiếm 19,477% và có 01 công ty hợp danh chiếm 0,003%.
- Theo quy mô vốn:
Bảng 6. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Theo số liệu thống kê tại Bảng 6, trong 10 tháng qua chỉ có quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký dưới 10 tỷ đồng là có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ năm 2016. Các quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký khác đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái, gồm: quy mô vốn đăng ký từ 20-50 tỷ đồng có 869 doanh nghiệp, tăng 24,7%; từ 10-20 tỷ đồng có 1.310 doanh nghiệp, tăng 12,6%; trên 100 tỷ đồng có 285 doanh nghiệp, tăng 8,4% và từ 50-100 tỷ đồng có 349 doanh nghiệp, tăng 2,9%. Điều này cho thấy, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 91,5% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 7. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

Trong 9 tháng đầu năm 2017, so với cùng kỳ năm 2016 tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chỉ tăng ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Các khu vực còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: Đông Nam Bộ có 14.796 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 9,4%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 3.346 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 7,0%; Tây Nguyên có 1.000 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 3,7% và cuối cùng là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có 1.104 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 0,2%. Còn về mặt số lượng, trong 10 tháng qua doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung phần lớn ở khu vực Đông Nam Bộ chiếm 44,6% và khu vực Đồng bằng Sông Hồng chiếm 32,5% so với tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động của cả nước.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 8. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

So sánh số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động giữa các ngành, thì doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 13.730 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 41,4%; Xây dựng có 4.596 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 13,9%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 3.760 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,3%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác có 1.770 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,3%; Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 1.622 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,9%;...
Cũng theo số liệu thống kê tại Bảng 8 cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 10 tháng qua giảm ở 04 ngành so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể:ngành Nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 575 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 20,6%; Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 13.730 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 8,6%; Hoạt động dịch vụ khác có 521 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 2,3% và Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 1.616 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 0,1%. Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng so với cùng kỳ năm 2016.
4. Tình hình doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 10 tháng đầu năm 2017
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 10 tháng đầu năm 2017 của cả nước là 9.794 doanh nghiệp, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2016.
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước trong 10 tháng đầu năm có 4.145 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 42,32%; có 2.863 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 29,23%; có 1.536 doanh nghiệp tư nhân chiếm 15,68%; có 1.248 công ty cổ phần chiếm 12,74% và có 02 công ty hợp danh chiếm 0,02%.
- Theo quy mô vốn:
Bảng 9. Số doanh nghiệp giải thể theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Qua số liệu tại Bảng 9 cho thấy, trong 10 tháng đầu năm, tất cả các quy mô vốn doanh nghiệp đăng ký đều có tỷ lệ giải thể tăng so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có 129 doanh nghiệp, tăng 57,3%; từ 10-20 tỷ đồng có 350 doanh nghiệp, tăng 36,2%; từ 20-50 tỷ đồng có 236 doanh nghiệp, tăng 22,9%; từ 50-100 tỷ đồng có 100 doanh nghiệp, tăng 14,9% và từ 0-10 tỷ đồng có 8.979 doanh nghiệp, tăng 3,5%. Có thể thấy, số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,7% trên tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước.
- Theo vùng lãnh thổ:
Bảng 10. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo vùng lãnh thổ

Xét về số lượng, trong 10 tháng đầu năm, số doanh nghiệp giải thể chủ yếu là ở những vùng có các thành phố phát triển như vùng Đông Nam Bộ có 3.498 doanh nghiệp, chiếm 35,7% trên tổng số doanh nghiệp giải thể, vùng Đồng bằng Sông Hồng có 1.798 doanh nghiệp, chiếm 18,4% tổng số và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 1.494 doanh nghiệp, chiếm 15,3% so với cả nước.
Về tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký giải thể, trong 10 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2016 có xu hướng tăng ở hầu hết các vùng, cụ thể: vùng Tây Nguyên có 963 doanh nghiệp, tăng 243,9%; Đồng bằng Sông Cửu Long có 1.571 doanh nghiệp, tăng 11,7%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 1.494 doanh nghiệp, tăng 10,5%; Trung du và miền núi phía Bắc có 470 doanh nghiệp, tăng 6,1% và Đồng bằng Sông Hồng có 1.798 doanh nghiệp, tăng 4,4%; duy nhất, vùng Đông Nam Bộ có 3.498 doanh nghiệp, giảm 14,5%.
Như vậy, xét về số lượng vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp giải thể nhiều nhất là 3.498 doanh nghiệp nhưng xét về tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp giải thể so với cùng kỳ năm ngoái thì vùng Tây Nguyên chiếm tỷ trọng lớn nhất là 243,9% so với các vùng còn lại.
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Bảng 11. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo lĩnh vực hoạt động

Số liệu tại Bảng 11 cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp giải thể trong 10 tháng đầu năm 2017 giảm ở 03 ngành so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Thông tin và truyền thông có 282 doanh nghiệp, giảm 18,3%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 300 doanh nghiệp, giảm 2,3% và Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 444 doanh nghiệp, giảm 1,8%. Các ngành, nghề còn lại đều có số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2016.
Bên cạnh đó, số doanh nghiệp giải thể tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 3.757 doanh nghiệp, chiếm 38,4%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.254 doanh nghiệp, chiếm 12,8%; Xây dựng có 1.027 doanh nghiệp, chiếm 10,5%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 618 doanh nghiệp, chiếm 6,3%;...
Lê Thị Thu Hải
Cục Quản lý đăng ký kinh doanh