Ông Lê Quang Mạnh
Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
I. KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH ĐĂNG KÝ KINH DOANH
Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia được triển khai từ năm 2007 tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP với hai nội dung chính là: (1) Hoàn thiện khung khổ pháp lý về đăng ký kinh doanh và (2) Xây dựng Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp nhằm tin học hóa công tác đăng ký kinh doanh trên phạm vi toàn quốc. Sau gần 5 năm triển khai với sự phối hợp hiệu quả của cơ quan đăng ký kinh doanh từ trung ương tới địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, Chương trình đã thu được những kết quả tích cực, đóng góp vào việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Một số kết quả nổi bật của Chương trình trong năm qua là:
1. Về hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký doanh nghiệp
Trong thời gian qua, khung pháp lý về đăng ký doanh nghiệp đã được hoàn thiện một bước nhằm đưa công tác đăng ký doanh nghiệp phát triển theo hướng thuận lợi, minh bạch và hiệu quả, cụ thể là:
a) Xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp
Theo dự kiến, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sẽ được Chính phủ trình Quốc hội xem xét trong Quốc hội khóa XIII năm 2013. Thời gian qua Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp với các Phòng đăng ký kinh doanh và một số hiệp hội doanh nghiệp triển khai rà soát, nghiên cứu và xây dựng các kiến nghị để đổi mới quy định về đăng ký kinh doanh trong sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.
b) Xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp
Tiếp tục thực hiện mục tiêu pháp lý hóa các yêu cầu cải cách đăng ký kinh doanh, ngày 09/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp. Nghị định đã đánh dấu một bước quan trọng trong triển khai thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Đặc biệt, việc quy định tập trung đăng bố cáo về thành lập doanh nghiệp tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc công bố thông tin về đăng ký doanh nghiệp, đồng thời, là kênh quan trọng để cộng đồng có thể giám sát trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp.
c) Ban hành Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT về đăng ký doanh nghiệp
Ngày 21/01/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp thay thế Thông tư số 14/2010/TT-BKH hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT ra đời đã hình thành khung pháp lý cho việc thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử, áp dụng chữ ký điện tử trong đăng ký doanh nghiệp; xây dựng cơ chế khai thác và sử dụng thông tin trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia; quy chế vận hành Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Đồng thời các quy định về việc công khai hóa thông tin về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tại Thông tư cũng sẽ góp phần quan trọng vào việc làm minh bạch hóa môi trường kinh doanh.
d) Quy định mới về phí và lệ phí đăng ký doanh nghiệp
Triển khai quy định tại Nghị định số 05/2013/NĐ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Đề án quy định về phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp tạo cơ sở quan trọng cho việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 hướng dẫn về phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp. Với quy định mới, các cơ quan đăng ký kinh doanh tại địa phương sẽ có căn cứ thực hiện việc công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và sẽ góp phần bổ sung nguồn tài chính cho cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp để bù đắp một phần chi phí thực hiện nghiệp vụ.
2. Công tác hướng dẫn, trao đổi và đào tạo nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp
a) Hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp
Trong thời gian qua, công tác hướng dẫn, trao đổi và hỗ trợ nghiệp vụ giữa cơ quan đăng ký kinh doanh trung ương và địa phương đã được đẩy mạnh, để có thể nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện đăng ký doanh nghiệp, đồng thời từng bước chuẩn hóa nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Việc trao đổi nghiệp vụ ngang cấp giữa các Phòng đăng ký kinh doanh các tỉnh/thành phố cũng đã được thực hiện thường xuyên hơn.
Trong năm 2012, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và ban hành hơn 900 văn bản để trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ về đăng ký doanh nghiệp.
Bên cạnh hình thức hướng dẫn bằng văn bản, công tác hỗ trợ nghiệp vụ còn được triển khai đa dạng theo nhiều hình thức như: hướng dẫn qua thư điện tử, qua đường dây nóng và các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ. Trong năm 2012, Trung tâm hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh đã tiếp nhận 10.120 cuộc điện thoại và 9.108 thư điện tử đề nghị hỗ trợ từ cán bộ nghiệp vụ tại 65 Phòng Đăng ký kinh doanh.
b) Công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ
Trong năm qua, công tác đào tạo và hướng dẫn nghiệp vụ được triển khai trên phạm vi toàn quốc với gần 600 cán bộ làm đăng ký kinh doanh được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tại 02 Hội nghị triển khai công tác đăng ký kinh doanh năm 2012 tại Quảng Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh, 06 Hội thảo trao đổi về các chức năng mới của Hệ thống và xin ý kiến góp ý về Thông tư thay thế Thông tư số 14/2010/TT-BKH. Như vậy, về mặt nghiệp vụ, công tác hỗ trợ đào tạo đã tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin hai chiều giữa cơ quan trung ương và địa phương, đảm bảo việc vận hành Hệ thống được rõ ràng, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, góp phần giảm thời gian xử lý nghiệp vụ tại địa phương.
3. Phát triển và vận hành Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
a) Vận hành và phát triển hạ tầng công nghệ
Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia được chính thức đưa vào vận hành trên phạm vi toàn quốc từ 01/01/2011 cho phép hơn 600 cán bộ đăng ký kinh doanh tại 63 tỉnh, thành phố tác nghiệp cùng lúc để thực hiện nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp. Trong thời gian qua, xác định nhiệm vụ phát triển hạ tầng Hệ thống là yêu cầu thiết yếu nhằm đảm bảo sự vận hành ổn định, liên tục của Hệ thống nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp đăng ký doanh nghiệp tại địa phương và công tác quản lý nhà nước tại cấp Trung ương, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã triển khai việc xây dựng hệ thống dự phòng và chuyển một phần cơ sở dữ liệu của Hệ thống sang Trung tâm dữ liệu số 02, bao gồm cơ sở dữ liệu dự phòng của hệ thống đăng ký doanh nghiệp căn bản (hệ thống do các Phòng Đăng ký kinh doanh sử dụng); cơ sở dữ liệu của các hệ thống đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử, chữ ký điện tử, thanh toán điện tử, báo cáo tài chính, cung cấp thông tin doanh nghiệp; chuyển hệ thống đường truyền dự phòng của Trung tâm dữ liệu số 01 tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh sang Trung tâm dữ liệu số 02 tại Trung tâm dữ liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
b) Phát triển các ứng dụng phần mềm đăng ký doanh nghiệp mới
Thực hiện mục tiêu phát triển các ứng dụng trên Hệ thống, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã triển khai xây dựng, sửa đổi, nâng cấp, phát triển các ứng dụng phần mềm để tiến tới hoàn thiện các chức năng của Hệ thống, đặc biệt là chức năng đăng ký doanh nghiệp qua mạng bao gồm các công việc cụ thể sau:
- Xây dựng ứng dụng đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử với các hợp phần: chữ ký điện tử, thanh toán điện tử, chữ ký chuyên dụng của cơ quan đăng ký kinh doanh;
- Xây dựng ứng dụng cảnh báo/vi phạm/thu hồi và đăng ký doanh nghiệp;
- Nâng cấp ứng dụng hiệu đính dữ liệu hiện tại và xây dựng phần mềm tải tài liệu đính kèm lên Hệ thống phục vụ cho chương trình số hóa thông tin và chuẩn hóa dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp;
- Xây dựng ứng dụng đăng bố cáo doanh nghiệp điện tử và triển khai thí điểm tại 5 địa phương: TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Dương, Hưng Yên và Quảng Ninh;
- Cập nhật thông tin tự động và thường xuyên về các trạng thái hoạt động của doanh nghiệp từ Cơ sở dữ liệu ngành Thuế.
Sau quá trình xây dựng các ứng dụng phần mềm mới, Hệ thống đã được tiến hành kiểm thử các phiên bản ứng dụng, đồng thời tổng hợp ý kiến đóng góp của các Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và các đơn vị có liên quan để hoàn thiện các tính năng phần mềm đăng ký doanh nghiệp.
c) Xây dựng Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia được xây dựng nhằm cung cấp cho cộng đồng một trang thông tin điện tử với đầy đủ các tính năng về đăng ký doanh nghiệp trực tuyến, kiểm tra tên doanh nghiệp, rà soát, hiệu đính thông tin đăng ký kinh doanh và các dịch vụ cung cấp thông tin doanh nghiệp và đăng bố cáo doanh nghiệp. Theo đó, cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước sẽ được tiếp cận với khối thông tin chính thống và cập nhật về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, góp phần nâng cao tính minh bạch của thị trường và phục vụ công tác hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh đó, Cổng thông tin sẽ là nơi tiếp nhận các phản hồi, kiến nghị, khiếu nại từ cộng đồng đối với công tác đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi cả nước. Đây sẽ là kênh thông tin quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước có thể lắng nghe ý kiến của người dân về công tác đăng ký doanh nghiệp tại địa phương, từ đó có những điều chỉnh chính sách và nội dung quản lý nhà nước cho phù hợp. Dự kiến, Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia sẽ được hoàn thiện và giới thiệu đến cộng đồng trong Quý III/2013.
4. Triển khai thực hiện Đề án Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập
Công tác quản lý nhà nước đối doanh nghiệp sau đăng ký thành lập trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế và thiếu sự thống nhất, đồng bộ giữa nội dung với tổ chức thực hiện, giữa phương thức với công cụ quản lý, giữa quy định pháp luật và điều kiện để thực thi pháp luật. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì xây dựng Đề án “Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập”. Trên cơ sở Đề án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình, ngày 11/04/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 419/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập”.
Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai một số nội dung nhằm thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Đề án, cụ thể như sau:
Thứ nhất, ngày 28/12/2012, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Quyết định số 1852/QĐ-BKHĐT quyết định ban hành Quy chế quản lý và vận hành Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để đảm bảo đủ khả năng phục vụ công tác đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, làm đầu mối cung cấp thông tin pháp lý về đăng ký doanh nghiệp và các dịch vụ công khác trong tương lai.
Thứ hai, thực hiện rà soát đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Công tác rà soát ngành nghề kinh doanh có điều kiện là yêu cầu cấp thiết nhằm tập hợp đầy đủ danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, tiến tới công khai và minh bạch các văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp. Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 419/QĐ-TTg, ngày 16/7/2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Công văn số 5082/BKHĐT-ĐKKD yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ rà soát, tổng hợp ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Đến ngày 20/12/2012, Bộ đã nhận được Công văn trả lời của 18 Bộ, ngành. Đồng thời, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã tổ chức tham vấn với chuyên gia tư vấn quốc tế về phương pháp, nội dung rà soát ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và cơ chế tăng cường tính hiệu quả của việc tuân thủ điều kiện kinh doanh.
Thứ ba, trên cơ sở Đề án đã được phê duyệt, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Phú Yên, Lào Cai, Yên Bái, Đà Nẵng, Huế, Quảng Nam đã tổ chức các buổi làm việc phổ biến nội dung của Đề án và nắm bắt tình hình thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập.
5. Hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và xây dựng hệ thống báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp
a) Hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Tính đến cuối năm 2012, đã có hơn 575 nghìn dữ liệu doanh nghiệp và đơn vị phụ thuộc của các địa phương được chuyển đổi vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, do dữ liệu doanh nghiệp được chuyển đổi từ nhiều nguồn khác nhau và dữ liệu quá khứ tại các địa phương được lưu trữ, quản lý một cách độc lập và theo các tiêu chí khác nhau, bên cạnh đó 60% dữ liệu chuyển đổi chưa được cập nhật nên Cơ sở dữ liệu còn thiếu thông tin, thông tin còn có chỗ sai khác.
Thời gian qua, Cơ quan đăng ký kinh doanh đã tiến hành triển khai một số nhiệm vụ nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp: (i) Thực hiện kiểm tra, đối chiếu và hiệu đính dữ liệu doanh nghiệp (chuẩn hóa dữ liệu); (ii) thực hiện chuyển đổi toàn bộ tài liệu, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bản giấy sang bản điện tử để đưa vào Hệ thống (số hóa tài liệu, hồ sơ); (iii) thực hiện tiếp nhận, cập nhật và bổ sung dữ liệu doanh nghiệp từ Cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (đồng bộ dữ liệu doanh nghiệp với cơ quan thuế). Một số kết quả đạt được là:
Thứ nhất, việc chuẩn hóa dữ liệu đã được triển khai thực hiện tại 17/63 địa phương. Trong đợt đầu triển khai thí điểm tại các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Hưng Yên đã có 91,5% các doanh nghiệp tiến hành thực hiện hiệu đính thông tin.
Thứ hai, việc số hóa tài liệu hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được tiến hành triển khai thí điểm tại 3 địa phương là: Thành phố Đà Nẵng, Phú Thọ và Thái Nguyên; đến nay, về cơ bản toàn bộ dữ liệu doanh nghiệp trong năm 2011 của thành phố Đà Nẵng đã được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Thứ ba, việc đồng bộ dữ liệu doanh nghiệp với cơ quan thuế, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp hiệu quả với Tổng cục Thuế trong việc Xây dựng Quy chế phối hợp về xử lý các lỗi giao dịch giữa hai cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, trong đó quy định cụ thể về quy trình trao đổi, tiếp nhận và cập nhật, bổ sung một số thông tin quan trọng về đăng ký doanh nghiệp, cụ thể là việc cập nhật tự động và thường xuyên về tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp từ Cơ sở dữ liệu thuế sang Cơ sở dữ liệu đăng ký kinh doanh.
b) Xây dựng hệ thống báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp
Đáp ứng các yêu cầu báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp, công tác báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp theo tháng, quý, năm đã được hệ thống hóa để đáp ứng các yêu cầu thường xuyên và đột xuất trong việc cung cấp dữ liệu và phân tích về tình trạng tồn tại, cơ cấu ngành nghề, loại hình thành lập của các doanh nghiệp trong nền kinh tế tại từng thời điểm. Hệ thống báo cáo về tình hình doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp đã trở thành nguồn thông tin chính thức và kịp thời phục vụ Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương.
Với số liệu tổng hợp từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và cộng đồng đã có thông tin chính xác và cập nhật về tình hình đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Trong Quý I năm 2013, cả nước có 15.707 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 79.389 tỷ đồng, so với quý I năm 2012 thì số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 6,8 % và số vốn đăng ký giảm 16,1 %; so với Quý IV năm 2012 thì số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm 9,4 % và số vốn đăng ký giảm 26,7 %.
Về số doanh nghiệp giải thể trong Quý I năm 2013, cả nước có 2.272 doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục giải thể doanh nghiệp, giảm 14 % so với Quý I năm 2012 và giảm 8,1 % so với Quý IV năm 2012. Về các doanh nghiệp gặp khó khăn phải dừng hoạt động, trong Quý I năm 2013, cả nước có 13.011 doanh nghiệp ngừng hoạt động (trong đó, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 3.567 doanh nghiệp, số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục đóng mã số thuế là 9.444 doanh nghiệp).
Bên cạnh đó, với khối dữ liệu đầy đủ và cập nhật về tình hình đăng ký doanh nghiệp, lần đầu tiên cơ quan nhà nước đã thống kê kịp thời số lượng doanh nghiệp đăng ký trở lại hoạt động. Trong Quý I năm 2013, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng quay trở lại hoạt động là 7.645 doanh nghiệp.
II. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Những kết quả đạt được
Trong thời gian qua, cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp đã phối hợp hiệu quả để triển khai thực hiện tốt chủ trương, định hướng đổi mới của Đảng và Chính phủ, hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh tại Việt Nam.
Thứ nhất, đã cơ bản đạt được những mục tiêu của Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia sau 4 năm triển khai thực hiện một cách triệt để và sâu rộng, góp phần chuẩn hóa, pháp lý hóa, tin học hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ đăng ký kinh doanh tại 65 Phòng Đăng ký kinh doanh trên cả nước.
Thứ hai, với vai trò là cơ quan nhà nước thực hiện nghiệp vụ đăng ký kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia nhập thị trường, cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp đã từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức, xây dựng hình ảnh cơ quan đăng ký kinh doanh tiên tiến, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nữa các yêu cầu của doanh nghiệp, của các cơ quan quản lý nhà nước và của cộng đồng.
Thứ ba, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bao gồm toàn bộ thông tin có giá trị pháp lý về doanh nghiệp trên phạm vi cả nước, tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan đầu mối tổng hợp thông tin về đăng ký doanh nghiệp để phản ánh kịp thời và đầy đủ tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên thị trường, đáp ứng các yêu cầu thống kê của các cơ quan và phục vụ các báo cáo kinh tế xã hội của trung ương cũng như địa phương.
2. Những vấn đề còn tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đăng ký kinh doanh còn một số những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Hệ thống Thông tin đăng ký kinh doanh quốc gia hiện mới thực hiện đăng ký cho doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp mà chưa tích hợp đầy đủ cho các loại hình doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp thành lập tại khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức tín dụng và các loại hình kinh doanh khác.
Thứ hai, chưa hoàn thiện được Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp do trước đây các địa phương lưu trữ, quản lý dữ liệu một cách độc lập và theo các tiêu chí khác nhau; dữ liệu doanh nghiệp chưa được công khai và không có sự giám sát của các bên có liên quan dẫn tới thông tin đôi khi không được cập nhật; dữ liệu của một số doanh nghiệp chưa được đồng bộ giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế dẫn tới khi chuyển đổi sang Cơ sở dữ liệu quốc gia bị trùng, bị lệch thông tin. Do đó, tỷ lệ thông tin doanh nghiệp cần rà soát và hiệu đính còn lớn so với tổng số dữ liệu về doanh nghiệp có được.
Thứ ba, trước đây chưa có quy trình thống nhất giữa hai ngành đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về cấp chung mã doanh nghiệp do đó việc lưu trữ và bảo quản, tra cứu hồ sơ chưa được chú trọng, bên cạnh đó, chúng ta chưa có hệ thống hạ tầng trang thiết bị để có thể thực hiện việc số hóa tài liệu và lưu trữ dữ liệu.
Thứ tư, mặc dù công tác cải cách thủ tục hành chính đã góp phần đáng kể trong việc cắt giảm một số thủ tục đăng ký kinh doanh, nhưng công tác đăng ký kinh doanh tại một số địa phương đôi khi vẫn có yếu tố thẩm định hồ sơ và chủ yếu là trao nhận kết quả trực tiếp nên vẫn còn những phản ánh, kiến nghị về tình trạng chậm trễ, thiếu chính xác trong giải quyết các yêu cầu của doanh nghiệp.
3. Phương hướng công tác năm 2013
Trên cơ sở tiếp tục thực hiện yêu cầu của Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia, cơ quan đăng ký kinh doanh xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong năm 2013 là:
Thứ nhất, tiếp tục triển khai các hoạt động hướng tới mục tiêu trọng tâm là đưa toàn bộ các pháp nhân hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế tập trung vào một hệ thống thông tin duy nhất là Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, cụ thể là đưa các loại hình như ngân hàng, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp khoa học công nghệ, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,... thực hiện quy trình đăng ký kinh doanh như các doanh nghiệp thông thường khác.
Thứ hai, tăng cường chuẩn hóa dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp nhằm sớm cung cấp cho cộng đồng những thông tin chính xác, cập nhật, có giá trị pháp lý về doanh nghiệp, góp phần minh bạch hóa thị trường và tăng tỷ lệ số hóa hồ sơ đăng ký doanh nghiệp để từng bước kiện toàn việc tin học hóa nghiệp vụ trên phạm vi cả nước.
Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác đăng ký kinh doanh tại địa phương để đảm bảo cho người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận được các dịch vụ công một cách thuận lợi theo hướng triệt để thực hiện nguyên tắc ”tiền đăng, hậu kiểm” trong quản lý doanh nghiệp, tách bạch đăng ký kinh doanh với các quy trình cấp phép kinh doanh sau thành lập doanh nghiệp.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế và thông tin truyền thông trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh để tiếp tục học hỏi kinh nghiệm tiên tiến của quốc tế và mở rộng các hình thức trao đổi thông tin hai chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng.
Nguồn: Cục quản lý đăng ký kinh doanh