Thời gian vừa qua, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp với Tổng cục Thuế và các địa phương để thực hiện công tác rà soát, chuẩn hóa dữ liệu về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế trong Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Trên cơ sở kết quả rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, sau khi thống nhất ý kiến với Tổng cục Thuế, ngày 29/01/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có hướng dẫn nghiệp vụ gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các nội dung chính như sau:

1. Trường hợp doanh nghiệp đã chấm dứt hiệu lực mã số thuế (MST) trên Hệ thống thông tin đăng ký thuế và trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp doanh nghiệp có tình trạng đang hoạt động/tạm ngừng kinh doanh/bị thu hồi
1.1. Đối với trường hợp doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể, phá sản không thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Phòng Đăng ký kinh doanh (Phòng ĐKKD) thực hiện cập nhật tình trạng pháp lý "đã giải thể hoặc phá sản" trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Sau khi cập nhật tình trạng pháp lý “đã giải thể hoặc phá sản”, Phòng ĐKKD gửi danh sách các doanh nghiệp đã giải thể tại Phòng ĐKKD nhưng chấm dứt hiệu lực MST tại cơ quan thuế với lý do “bỏ địa điểm kinh doanh” đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp cập nhật về lý do giải thể hoặc phá sản đảm bảo đồng bộ trạng thái hoạt động của doanh nghiệp giữa Phòng ĐKKD và cơ quan thuế.
1.2. Đối với trường hợp doanh nghiệp đã bị Phòng ĐKKD ra Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
a) Trường hợp tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là tình trạng đang hoạt động/tạm ngừng kinh doanh.
Phòng ĐKKD cập nhật tình trạng của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sang tình trạng “bị khóa” đồng thời đăng tải Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Đối với Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã được ban hành quá 180 ngày tính đến ngày 01/7/2015, Phòng ĐKKD cập nhật tình trạng pháp lý đã giải thể trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ngay sau khi đăng tải Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Đối với Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã được ban hành từ 180 ngày trở xuống tính đến ngày 01/7/2015, Phòng ĐKKD cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 5 Điều 203 Luật Doanh nghiệp.
Sau khi cập nhật tình trạng pháp lý “đã giải thể”, Phòng ĐKKD gửi danh sách các doanh nghiệp đã giải thể tại Phòng ĐKKD đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp cập nhật về lý do giải thể đảm bảo đồng bộ trạng thái hoạt động của doanh nghiệp giữa Phòng ĐKKD và cơ quan thuế.
b) Trường hợp tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là tình trạng bị thu hồi
Phòng ĐKKD thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm a Mục 1.2 nhưng không cập nhật tình trạng “bị khóa” của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Sau khi cập nhật tình trạng pháp lý “đã giải thể”, Phòng ĐKKD gửi danh sách các doanh nghiệp đã giải thể tại Phòng ĐKKD nhưng chấm dứt hiệu lực MST tại cơ quan thuế với lý do “bỏ địa điểm kinh doanh” đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp cập nhật về lý do giải thể đảm bảo đồng bộ trạng thái hoạt động của doanh nghiệp giữa Phòng ĐKKD và cơ quan thuế.
1.3. Đối với trường hợp doanh nghiệp đã chấm dứt hiệu lực MST trên Hệ thống thông tin đăng ký thuế và trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp vẫn đang hoạt động/tạm ngừng kinh doanh
Phòng ĐKKD yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp:
- Trường hợp doanh nghiệp gửi báo cáo, Phòng ĐKKD thông báo bằng văn bản đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế quản lý trực tiếp xem xét xử lý theo quy định của pháp luật về thuế. Sau khi có kết quả xử lý, Cục Thuế gửi thông báo bằng văn bản tới Phòng ĐKKD để phối hợp trong công tác quản lý nhà nước. Việc xử lý đối với vi phạm quy định về giải thể doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/6/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.
- Trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo, Phòng ĐKKD thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp và cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 5 Điều 203 Luật Doanh nghiệp.
2. Trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế với lý do “bỏ địa điểm kinh doanh” (Người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký) trên Hệ thống thông tin đăng ký thuế và trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp doanh nghiệp vẫn ở tình trạng đang hoạt động/tạm ngừng kinh doanh/bị thu hồi
2.1. Đối với trường hợp doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể, phá sản không thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Căn cứ hồ sơ bản giấy lưu giữ tại Phòng ĐKKD, Phòng ĐKKD cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sang tình trạng "đã giải thể hoặc phá sản" và gửi thông báo bằng Văn bản đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp biết và phối hợp thực hiện trong công tác quản lý nhà nước.
2.2. Đối với trường hợp doanh nghiệp đã bị Phòng Đăng ký kinh doanh ra Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Phòng ĐKKD thực hiện theo hướng dẫn nêu tại Mục 1.2.
Căn cứ hồ sơ bản giấy lưu giữ tại Phòng ĐKKD, sau khi thực hiện cập nhật tình trạng pháp lý "đã giải thể" trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Phòng ĐKKD gửi thông báo bằng văn bản đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp biết và phối hợp thực hiện trong công tác quản lý nhà nước.
2.3. Đối với trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế
a) Trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động dưới 01 năm:
Phòng ĐKKD yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp.
- Trường hợp doanh nghiệp có gửi báo cáo: Phòng ĐKKD thông báo bằng văn bản đến Cục Thuế để chuyển cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp phối hợp thực hiện trong công tác quản lý nhà nước.
- Trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo: Phòng ĐKKD thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp.
Phòng ĐKKD truyền giao dịch cho cơ quan thuế để cập nhật tình trạng pháp lý của người nộp thuế trên hệ thống thông tin đăng ký thuế theo quy định tại Điều 13 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 23/02/2016 giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính hướng dẫn việc trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuế và thông báo bằng văn bản đến cơ quan thuế về các trường hợp thu hồi để phối hợp thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Khoản 1 và 5 Điều 203 Luật Doanh nghiệp.
b) Trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động từ 01 năm trở lên:
Phòng ĐKKD thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp.
Phòng ĐKKD truyền giao dịch cho cơ quan thuế để cập nhật tình trạng pháp lý của người nộp thuế trên hệ thống thông tin đăng ký thuế theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC và thông báo bằng văn bản đến cơ quan thuế về các trường hợp thu hồi để phối hợp thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Khoản 1 và 5 Điều 203 Luật Doanh nghiệp.
3. Xử lý chấm dứt các đơn vị trực thuộc đã chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên Hệ thống thông tin đăng ký thuế nhưng chưa chấm dứt hoạt động trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp của các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế.
- Trường hợp doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc có trụ sở cùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Phòng ĐKKD thực hiện việc chấm dứt hoạt động của đơn vị trực thuộc theo quy trình giải thể trên hệ thống. Trường hợp đơn vị trực thuộc đã có hồ sơ chấm dứt hoạt động hợp lệ, Phòng ĐKKD thực hiện xóa tên (ẩn dữ liệu).
- Trường hợp doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc có trụ sở khác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Phòng ĐKKD nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính gửi thông báo về tình trạng xử lý doanh nghiệp tới Phòng ĐKKD nơi đơn vị trực thuộc đặt trụ sở và đề nghị chấm dứt hoạt động của đơn vị trực thuộc theo quy trình giải thể trên hệ thống. Trường hợp đơn vị trực thuộc đã có hồ sơ chấm dứt hoạt động hợp lệ, Phòng ĐKKD thực hiện xóa tên (ẩn dữ liệu).
Để tiếp tục hoàn thiện và chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong thời gian tới, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ có văn bản gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thống nhất thực hiện.
Hoàng Thanh Tuấn
(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)