Nhằm tổng kết các kết quả đã đạt được qua 10 năm (2007-2017) triển khai cơ chế phối hợp liên thông thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp giữa cơ quan Đăng ký kinh doanh và Đăng ký thuế, ngày 30/5/2017, tại thành phố Hà Nội, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Tổng cục thuế - Bộ Tài chính đã tổ chức Hội nghị Phối hợp công tác Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế với sự tham gia của gần 300 đại biểu đến từ các cơ quan Trung ương, các tổ chức quốc tế: Cục Hợp tác kinh tế liên bang Thụy Sỹ (SECO), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) và các Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục thuế của 26 tỉnh/thành phố thuộc khu vực phía Bắc.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bà Trần Thị Hồng Minh – Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh cho biết mục đích của Hội nghị Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế là “nhằm tổng kết những dấu mốc lớn, những thành tựu nổi bật trong quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong chặng đường vừa qua, đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa công tác phối hợp giữa hai ngành hướng đến một mục tiêu chung là cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp”. Bài viết dưới đây sẽ tổng kếtnhững thành tựu nổi bật trong quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

1. Đối với doanh nghiệp
a) Giảm tối đa thời gian và chi phí để doanh nghiệp gia nhập thị trường
Có thể thấy rằng, xuyên suốt quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đều hướng đến một mục tiêu cao nhất là tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục gia nhập thị trường. Một trong những minh chứng thể hiện rõ nhất đó là việc giảm đáng kể thời gian thực hiện các thủ tục cơ bản của quá trình gia nhập thị trường. Cụ thể. thời gian thực hiện các thủ tục cơ bản của quá trình gia nhập thị trường theo quy định đã được giảm từ 32 ngày làm việc (giai đoạn trước năm 2005) xuống 22 ngày làm việc (từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực), 15 ngày làm việc (kể từ năm 2007), 5 ngày làm việc (kể từ năm 2008 đến năm 2014) và hiện nay chỉ còn tối đa 3 ngày làm việc.
Thậm chí, thời gian xử lý hồ sơ thực tế còn thấp hơn thời gian so với quy định. Cụ thể, theo thống kê từ Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp mới của cả nước hiện nay chỉ còn 2,9 ngày, thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp là 2,05 ngày, nhanh hơn so với quy định của Luật Doanh nghiệp 2014. Tỷ lệ hồ sơ được chấp thuận ngay lần đầu tiên đạt gần 86%, tỷ lệ hồ sơ trả kết quả đúng hẹn đạt gần 90%.

Đối với những địa phương đã thực hiện cấp mã số doanh nghiệp tự động, thời gian cấp mã số doanh nghiệp chỉ còn trung bình khoảng 30 phút so với 30 giờ như trước đây (Phụ lục kèm theo).
b) Nâng cao sự công khai, minh bạch thông tin pháp lý về doanh nghiệp
Có thể nói rằng, thông tin luôn được xem là công cụ hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, tìm hiểu đối tác, bạn hàng cũng như là cơ sở để tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp. Kể từ năm 2010, trên cơ sở hợp nhất dữ liệu rời rạc từ 65 Phòng ĐKKD trên cả nước và đối chiếu với Cơ sở dữ liệu trong Hệ thống thông tin thuế, hiện nay, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã lưu giữ thông tin có giá trị pháp lý là thông tin gốc của gần 1.000.000 doanh nghiệp và 300.000 đơn vị phụ thuộc trên phạm vi toàn quốc.
Trên cơ sở các thông tin có giá trị pháp lý được chiết xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã cho phép tất cả các tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận nhanh hơn, dễ dàng hơn với các thông tin pháp lý về doanh nghiệp thông qua một đầu mối thông tin duy nhất và có giá trị pháp lý, thay thế phương thức tiếp cận thông tin truyền thống là cơ chế “xin - cho”. Đồng thời, với các tiện ích từ Internet, việc trao đổi ý kiến và hỗ trợ người sử dụng Dịch vụ thông tin cũng rất thuận tiện và nhanh chóng. Điều này giúp minh bạch hóa môi trường kinh doanh, góp phần đem lại sự an toàn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp.
c) Được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công hiện đại
Từ năm 2013, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã chính thức đi vào hoạt động với tư cách là một cổng thông tin điện tử được sử dụng để các tổ chức, cá nhân thực hiện các dịch vụ công trực tuyến như đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử; dịch vụ thông tin đăng ký doanh nghiệp; công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp (bố cáo điện tử); chuẩn hóa dữ liệu đăng ký doanh nghiệp...
Theo thống kê từ Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì trong năm 2016 tỷ lệ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đạt 14%, riêng trong Quý IV/2016 đạt 35,26%. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đáp ứng yêu cầu về một dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4, giúp giảm thời gian, chi phí gia nhập thị trường cho doanh nghiệp, đồng thời, góp phần xây dựng một nền hành chính thuận lợi, minh bạch thông qua việc hạn chế tối đa những tiêu cực có thể phát sinh từ sự can thiệp của con người.
Theo số liệu của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, tính đến ngày 23/5/2017, tổng số lượng truy cập Cổng thông tin đạt 114.665.336. Số lượng truy cập cụ thể tại từng trang được tổng hợp trong bảng dưới đây:

Ngoài ra, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp còn cung cấp một công cụ hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp trong việc theo dõi tình trạng xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, theo đó, đối với trường hợp hồ sơ được nộp trực tiếp tại Phòng Đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp có thể ngồi tại nhà tra cứu trạng thái xử lý hồ sơ trên Cổng thông tin, xem được lý do yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có) mà không cần đến Phòng Đăng ký kinh doanh để biết được các thông tin này.
Như vậy, thông qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, người dân, doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng các tiện ích, dịch vụ công trực tuyến cũng như tra cứu các thông tin có giá trị pháp lý về doanh nghiệp một cách thuận lợi và kịp thời, qua đó giảm thiểu các chi phí cũng như rủi ro cho doanh nghiệp.
2. Đối với công tác quản lý nhà nước
a) Khung pháp lý về việc phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đã cơ bản được hoàn thiện
Có thể thấy rằng trong quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, vấn đề về hoàn thiện về khung khổ pháp lý luôn là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu. Khung khổ pháp lý là cơ sở để các bên triển khai cơ chế phối hợp cũng như để Hệ thống công nghệ thông tin của hai bên triển khai nâng cấp ứng dụng. Trải qua khoảng thời gian 10 năm từ năm 2007 cho đến nay, hai bên đã cùng nhau phối hợp, đóng góp ý kiến để xây dựng 01 Luật, 02 Nghị định, 03 Thông tư quy định về cơ chế phối hợp giữa hai bên và rất nhiều các Công văn hướng dẫn địa phương trên phạm vi toàn quốc.
Cho đến nay, khung pháp lý về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đã cơ bản được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho việc phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.
b) Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thông qua việc hiện đại hóa, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong quá trình phối hợp công tác
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2010, Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã được thiết lập và kết nối với Hệ thống thông tin thuế, góp phần đưa thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế trở thành mô hình liên thông điện tử đầu tiên trong khối cơ quan quản lý nhà nước ở nước ta. Đồng thời, Hệ thống thông tin thuế cũng được nâng cấp thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước của ngành thuế cũng như công tác phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh. Việc đưa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp vào vận hành và kết nối liên thông với Hệ thống thông tin Thuế đã góp phần thay đổi căn bản quy trình, nghiệp vụ đăng ký kinh doanh cũng như quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, cụ thể như sau:
- Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã cho phép hơn 600 cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh được trực tiếp tác nghiệp theo thời gian thực theo một quy trình nghiệp vụ chuẩn trên phạm vi toàn quốc và qua đó công khai hóa toàn bộ quy trình, tình trạng hồ sơ đăng ký kinh doanh, giúp minh bạch hóa hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp.
- Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuế là phương tiện phục vụ cho việc kết nối, trao đổi dữ liệu điện tử giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Điều này, một mặt, giúp nâng cao hiệu suất công tác của hai ngành trong việc phục vụ người dân, doanh nghiệp, đồng thời, giúp tăng cường chia sẻ thông tin phục vụ cho công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
Kể từ khi thiết lập liên thông giữa hai Hệ thống cho đến nay, đã có khoảng 2.8 triệu giao dịch được thực hiện giữa hai bên. Đặc biệt, tổng số giao dịch mà hai bên đã thực hiện kể từ thời điểm Thông tư liên lịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC (có hiệu lực kể từ ngày 15/4/2016) là 688.144 giao dịch.
Đồng thời, trong thời gian qua, số lượng báo cáo tài chính đã được cơ quan Thuế cung cấp cụ thể như sau:

Bên cạnh đó, công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa hai bên đã được thực hiện thường xuyên, liên tục, giúp khắc phục và xử lý nhanh các vướng mắc trong quá trình nhận và trao đổi dữ liệu. Các giao dịch được kiểm tra định kỳ hàng giờ để kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp bị lỗi.
(Bảng: Tỷ lệ về thời gian trả kết quả khi liên thông hai hệ thống)

Bảng số liệu nêu trên là một trong những minh chứng cụ thể cho việc phối hợp tích cực giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Thời gian chờ trả kết quả khi liên thông giữa hai hệ thống đã được rút ngắn đáng kể. Nếu như trong năm 2011, tỷ lệ trả kết quả trong ngày là 38.77% thì năm 2016, có đến 83% kết quả phối hợp được trả ngay trong ngày.
(Bảng: Số lỗi giao dịch được phối hợp xử lý)

Hàng năm, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đều phối hợp xử lý thành công trên 1000 trường hợp lỗi giao dịch. Đặc biệt, trong năm 2014, khi cả hai bên đều tiến hành nâng cấp Hệ thống công nghệ thông tin để đáp ứng sự thay đổi về khung pháp lý mới thì số lỗi giao dịch được hai bên phối hợp xử lý thành công là 4000 trường hợp.
- Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là kênh thông tin quan trọng giúp kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương với người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan. Trung bình mỗi năm, bộ phận Hỗ trợ nghiệp vụ ĐKKD đặt tại Bộ KH&ĐT tiếp nhận hơn 6.000 cuộc điện thoại và hơn 7.000 thư điện tử từ doanh nghiệp và cán bộ đăng ký kinh doanh địa phương đề nghị hỗ trợ, hướng dẫn về mặt nghiệp vụ.
c) Tạo được hình ảnh cơ quan nhà nước thân thiện, phục vụ, đổi mới
Gia nhập thị trường là một trong những chỉ số thành phần đầu tiên của Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Mục đích của việc xây dựng chỉ số này là nhằm đánh giá sự khác nhau giữa các tỉnh về chi phí gia nhập thị trường của doanh nghiệp mới ở tỉnh dưới góc nhìn của doanh nghiệp.
Khảo sát PCI trong suốt giai đoạn 2006-2016 ghi nhận những cải thiện rõ rệt nhất ở lĩnh vực Gia nhập thị trường, lĩnh vực dẫn đầu bảng xếp hạng các chỉ số PCI 11 năm liên tiếp.

Biểu đồ: Thay đổi điểm số của các chỉ số thành phần PCI qua các năm
Những con số đánh giá tích cực trên từ phía cộng đồng doanh nghiệp đã phần nào phản ánh những kết quả tích cực mà công tác đăng ký doanh nghiệp đạt được trong thời gian vừa qua. Việc phối hợp giữa hai cơ quan nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp đã góp phần xây dựng hình ảnh cơ quan nhà nước thân thiện, vì doanh nghiệp, vì nhân dân phục vụ.
Hoàng Thanh Tuấn
(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)