ĐIỂM LẠI NHỮNG DẤU MỐC LỚN TRONG QUÁ TRÌNH PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ CƠ QUAN THUẾ

Thứ tư, 02/08/2017 08:18 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

Quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế được chính thức hóa lần đầu tiên vào năm 2007 khi Liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA. Có thể thấy rằng, khoảng thời gian 10 năm từ năm 2007 cho đến nay đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nói chung và thủ tục gia nhập thị trường cho doanh nghiệp nói riêng. Điều này đã được người dân, cộng đồng doanh nghiệp cũng như các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Lĩnh vực gia nhập thị trường luôn là lĩnh vực dẫn đầu bảng xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong suốt giai đoạn này. Có được những thành tựu nêu trên là kết quả của một chặng đường dài không ngừng nỗ lực, hợp tác, sáng tạo của những ngườilàm công tác đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế cả cấp Trung ương địa phương. Dưới đây sẽ tổng kết lại những dấu mốc lớn trong quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong suốt chặng đường 10 năm vừa qua.

I. Bối cảnh trước khi có sự phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế

Mặc dù quá trình Đổi mới đã được khởi động từ năm 1986, nhưng cho tới trước năm 1991, nhu cầu quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp không cao do tính chất của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Trong thời kỳ này, có 03 văn bản pháp lý rất quan trọng và là tiền đề cho các quy định về chế độ đăng ký kinh doanh sau này là: Nghị định số 29-HĐBT[1], Nghị định số 27-HĐBT[2] và Nghị định số 170-HĐBT[3].

Bắt đầu từ năm 1991, với sự ra đời của Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, cơ chế về đăng ký kinh doanh bắt đầu được quan tâm. Trong giai đoạn 1991-1999, về cơ bản, việc đăng ký kinh doanh là sự “xin phép” của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Trình tự và thủ tục thành lập doanh nghiệp rất chặt chẽ, phải qua sự kiểm tra, thẩm định, đánh giá và chứng nhận của hệ thống các cơ quan nhà nước từ phường xã, quận huyện đến tỉnh, thành phố, kể cả ở cấp trung ương.

Chương trình cải cách tổng thể công tác đăng ký kinh doanh ở nước ta bắt đầu bằng việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp 1999. Luật này về cơ bản đã thay đổi bản chất của việc đăng ký kinh doanh từ “xin phép được tiến hành kinh doanh” sang “thông báo với các cơ quan có thẩm quyền về sự hiện hữu của doanh nghiệp”. Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện đăng ký kinh doanh đã được cải cách cơ bản, đơn giản hóa và rút ngắn nhiều lần so với trước đây. Kể từ khi có những cải cách mạnh mẽ về thủ tục thành lập doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp 1999, số lượng doanh nghiệp đăng ký ở nước ta đã tăng rất nhanh. Tính từ đầu năm 2000 đến hết 2009, đã có khoảng 415.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, gấp gần 10 lần so với tổng số doanh nghiệp được thành lập trong cả thập kỷ trước (1990-1999 có hơn 45.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập).

Để tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc gia nhập thị trường cho doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2005 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2006, thay thế Luật Doanh nghiệp 1999) cùng với Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh đã quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo hướng đơn giản hóa, thuận lợi hơn rất nhiều. Thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp đã giảm xuống còn tối đa là 10 ngày làm việc.

Tuy nhiên, ngoài thủ tục đăng ký kinh doanh, để có thể gia nhập thị trường, doanh nghiệp còn cần phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính khác, trong đó hai thủ tục quan trọng nhất là đăng ký thuế và xin khắc con dấu. Trước năm 2007, các bước thủ tục hành chính này được tiến hành độc lập tại các cơ quan khác nhau khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian, phải tuân thủ nhiều thủ tục hành chính, hồ sơ doanh nghiệp phải thực hiện có nhiều yêu cầu trùng lắp, doanh nghiệp không thể thực hiện nhiều thủ tục đồng thời với nhau mà phải thực hiện lần lượt các thủ tục. (Ví dụ như phải chờ 10 ngày để có Giấy chứng nhận ĐKKD rồi mới được đi khắc dấu, có MST rồi mới được mua hóa đơn v.v...), Bên cạnh đó, sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa thực sự hiệu quả.

II. Quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế

1. Liên thông” theo cơ chế một cửa giữa ba thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và khắc dấu

Để góp phần khắc phục các tồn tại nêu trên, nhằm đơn giản hoá các quy định về thủ tục hành chính trong ba khâu đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27/02/2007, liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số  02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết ba thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp Giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp (Thông tư 02) theo hướng rà soát, loại bỏ những khâu, thủ tục bất hợp lý; giảm bớt các giấy tờ không cần thiết; hợp lý hoá các khâu tổ chức thực hiện đối với 3 loại thủ tục này theo nguyên tắc “một cửa”, phối hợp liên thông giữa các cơ quan, giảm thiểu thời gian giải quyết công việc.

Ngay khi soạn thảo Thông tư, Liên Bộ đã hình dung rõ lộ trình để giải quyết triệt để ba thủ tục này. Tuy nhiên, để giải quyết triệt để, cần hai việc: (1) Sửa chức năng, nhiệm vụ của 3 hệ thống cơ quan trên; (2) tin học hóa về nghiệp vụ đối với 3 cơ quan và nối mạng với hệ thống 3 cơ quan này.

Việc hoàn tất được hai vấn đề trên đòi hỏi thời gian dài. Với tinh thần thực hiện ngay những công việc có thể triển khai được nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tế và việc triển khai trong thời gian qua đã cho thấy Thông tư 02 đã được thực hiện quyết liệt và nhanh chóng đi vào cuộc sống, thể hiện tác dụng rõ nét trên các mặt sau:

Một là, tạo ra căn cứ pháp lý để các địa phương triển khai đồng loạt việc phối hợp nghiệp vụ của 3 cơ quan gồm: đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu;

Hai là, loại bỏ những khâu thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian giải quyết 3 thủ tục này từ 32 ngày xuống còn 15 ngày đối với thành lập mới doanh nghiệp và 12 ngày đối với thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện và thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh;

Ba là, tạo khâu đột phá về cải cách thủ tục hành chính, có tác động lan tỏa, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực khác. Ví dụ điển hình là sau khi Thông tư 02 được ban hành và phát huy hiệu quả trong cuộc sống, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện cơ chế “liên thông” trong đầu tư xây dựng, liên quan đến các thủ tục như lập, thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng, thủ tục giao đất cho doanh nghiệp, đánh giá tác động môi trường,…(Công văn số 1876/VPCP-CCHC ngày 09/4/2007 của Văn phòng Chính phủ);

Bốn là, tạo tiền lệ tốt về sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong giải quyết thủ tục cho người dân và doanh nghiệp nói chung và thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp nói riêng.

2. “Liên thông” hợp nhất thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế

Ngày 30/11/2007, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, trong đó, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn việc thực hiện đăng ký thành lập mới, đăng ký mã số thuế trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc và thống nhất nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế trong một bộ hồ sơ duy nhất nộp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư; sử dụng hệ thống mã số thuế doanh nghiệp làm mã số đăng ký kinh doanh.

Để tiếp tục cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP nêu trên, trên cơ sở kế thừa và tiếp tục phát huy những điểm tiến bộ tại Thông tư liên tịch số  02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA, ngày 29/7/2008, liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thay thế Thông tư số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA.

Việc ban hành và thực hiện Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA đã tạo nên một bước tiến lớn nữa trong việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp, giúp đơn giản hóa hồ sơ, giảm chi phí về thời gian và tiền bạc trong việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, cụ thể:

Một là, hợp nhất hồ sơ đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thành một bộ hồ sơ duy nhất;

Hai là, hợp nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế thành mã số doanh nghiệp;

Ba là, hợp nhất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế thành Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế;

Bốn là, tiếp tục giảm thời gian thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế từ 15 ngày (kết quả từ Thông tư 02) xuống còn 5 ngày.

3. Liên thông điện tử hai thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thành một thủ tục duy nhất: "thủ tục đăng ký doanh nghiệp"

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP, Nghị quyết số 01/2009/NQ-CP, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 7949/VPCP-TCCV ngày 18/11/2008 của Văn phòng Chính phủ và trên cơ sở những kinh nghiệm và thành công thu được trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA, số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA, trong khuôn khổ Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp Bộ Tài chính, Bộ Công an và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp.

Khung pháp lý về đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã có một số điểm tiến bộ nổi bật như sau:

Thứ nhất, hợp nhất hoàn toàn các thủ tục gia nhập thị trường cho doanh nghiệp để có thể đơn giản hóa và giảm thời gian thực hiện cả thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế cho doanh nghiệp trong thời hạn tối đa là 05 ngày làm việc;

Thứ hai, áp dụng một mã số duy nhất để định danh cho doanh nghiệp gọi là mã số doanh nghiệp; từ đó tạo điều kiện kỹ thuật cho việc chia sẻ thông tin về đăng ký doanh nghiệp giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng như giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp;

Thứ ba, xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp phủ khắp cả nước, nối mạng với Hệ thống thông tin thuế để điện tử hóa quy trình phối hợp đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế giữa hai cơ quan.


Biểu đồ: So sánh tương quan xu hướng tăng/giảm của số lượng DN thành lập mới, thời gian

xử lý hồ sơ ĐKDN và số lượng cán bộ ĐKKD

Theo cơ chế này, tổ chức, cá nhân đăng ký thành lập doanh nghiệp chỉ phải nộp một bộ hồ sơ duy nhất(gồm các thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế) tại một đầu mối tiếp nhận duy nhất (cơ quan ĐKKD)để được cấp một Giấy duy nhất là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đồng thời là chứng nhận đăng ký thuế) và một mã số doanh nghiệp duy nhấttrên một quy trình chuẩn thống nhất trên phạm vi cả nước. Có thể nói rằng, nếu như Thông tư số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA và sau đó là Thông tư số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA là các văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý cho việc phối hợp giữa hai ngành đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thì với sự ra đời của Nghị định 43/2010/NĐ-CP đã nâng cơ chế phối hợp giữa hai ngành lên một tầm cao mới theo hướng phối hợp liên thông điện tử, đặt nền móng cho quá trình phối hợp liên thông điện tử, hiện đại hơn, tiên tiến hơn và hiệu quả hơn.

4. Liên thông điện tử tự động giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế

Theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là 05 ngày làm việc, trong đó, 02 ngày để cơ quan thuế cấp mã số doanh nghiệp, 03 ngày để cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận, xử lý hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Với cơ chế này, việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có thể bị kéo dài do phải phụ thuộc vào việc chờ cấp mã số doanh nghiệp.

Để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp gia nhập thị trường, Luật Doanh nghiệp 2014 đã giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp xuống còn 03 ngày làm việc. Để hiện thực hóa quy định nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 43/2010/NĐ-CP. Theo đó, Nghị định đã pháp lý hóa cơ chế phối hợp liên thông điện tử tự động giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thông qua quy trình tạo và sử dụng mã số doanh nghiệp. Cụ thể, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã quy định mã số doanh nghiệp được tạo, gửi, nhận tự động bởi Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Hệ thống thông tin đăng ký thuế và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước thống nhất sử dụng mã số doanh nghiệp để quản lý và trao đổi thông tin về doanh nghiệp.

Việc liên thông điện tử tự động giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế đã hạn chế sự tác động can thiệp của con người và qua đó góp phần rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệptừ 05 ngày làm việc xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Bên cạnh đó, để xác lập cơ sở pháp lý cho việc phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, ngày 23/02/2016, Liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư và Tài chính để ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC hướng dẫn việc trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp, thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thông tin về báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC đã (1) Quy định chi tiết quy trình tạo mã số doanh nghiệp tự động trên Hệ thống thông tin đăng ký thuế, (2) Pháp lý hóa các quy trình trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp, thông tin về báo cáo tài chính của doanh nghiệp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế và (3) Thống nhất quy trình chia sẻ thông tin về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập.

[1]Nghị định số 29-HĐBT ngày 9/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định về chính sách đối với kinh tế gia đình trong hoạt động sản xuất và dịch vụ sản xuất

[2]Nghị định số 27-HĐBT ngày 9/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải

[3] Nghị định số 170-HĐBT ngày 14/11/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, xí nghiệp tư doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp

Hoàng Thanh Tuấn

(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)

Lượt xem: 4638

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử