CÔNG TÁC PHỐI HỢP RÀ SOÁT, ĐỒNG BỘ THÔNG TIN ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP GIỮA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ CƠ QUAN THUẾ

Thứ năm, 13/07/2017 08:21 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

Từ năm 2010 đến nay, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đã thực hiện việc kết nối, trao đổi thông tin liên tục, tự độnggiữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế, cùng với đó là việc phối hợp thực hiện rà soát, đồng bộ thông tin đăng ký doanh nghiệp, qua đó đã góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp, công tác quản lý đăng ký thuế và đảm bảo việc cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin có giá trị pháp lý về đăng ký doanh nghiệp cho các cơ quan có liên quan, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu, tăng tính minh bạch của môi trường kinh doanh. Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua thì vẫn còn một số tồn tại trong quá trình thực hiện giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, việc chỉ ra những tồn tại giúp cho hai cơ quan cùng xem xét, đánh giá và xử lý các vướng mắc nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp giữa hai cơ quan, là tiền đề cho việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ giao.     

1. Thực tiễn về yêu cầu phối hợp rà soát, đồng bộ thông tin đăng ký doanh nghiệp

Năm 2007 là năm đầu tiên đánh dấu công tác phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc liên thông thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế. Tại thời điểm này, mặc dù đã có liên thông thủ tục hành chính nhưng việc lưu trữ hồ sơ và thông tin đăng ký doanh nghiệp vẫn hoàn toàn độc lập giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Tuy nhiên, đây là bước khởi đầu quan trọng cho quá trình phối hợp giữa hai cơ quan về sau này.

Từ năm 2008, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện hợp nhất hai thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, áp dụng một mã số duy nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp, tạo điều kiện pháp lý và kỹ thuật cho việc trao đổi, kết nối thông tin về doanh nghiệp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Thời điểm này, hai cơ quan đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đã thực hiện dùng chung một mã số danh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế. Việc lưu trữ hồ sơ và trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp vẫn thực hiện thủ công và độc lập giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.

Năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, trong đó có quy định việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Quản lý đăng ký kinh doanh) tổ chức xây dựng, quản lý Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Hệ thống) để hỗ trợ các nghiệp vụ về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc và Bộ Tài chính (Tổng Cục thuế) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc kết nối giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế nhằm cung cấp mã số doanh nghiệp phục vụ đăng ký doanh nghiệp và trao đổi thông tin doanh nghiệp.

Triển khai nhiệm vụ nói trên, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh và Tổng Cục thuế đã chủ động và tích cực phối hợp xây dựng, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin để phục vụ kết nối, trao đổi thông tin giữa hai ngành. Cũng trong năm 2010, Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã hoàn thành việc chuyển đổi dữ liệu cho hơn 550 nghìn doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc từ các cơ sở dữ liệu của địa phương vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp nhằm phục vụ cho việc kết nối, trao đổi thông tin giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế.

Tháng 7/2015, Hệ thống tiếp tục hoàn thành việc chuyển đổi dữ liệu cho hơn 18 nghìn doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc có vốn đầu tư nước ngoài từ cơ sở dữ liệu của các cơ quan đầu tư tại 63 địa phương vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp được thành lập trên Hệ thống từ năm 2011 trở đi, dữ liệu doanh nghiệp lưu trữ tại cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế là trùng khớp. Tuy nhiên, các dữ liệu chuyển đổi không có sự đồng nhất, tính đầy đủ và chính xác của dữ liệu còn hạn chế. Những hạn chế trên đã dẫn tới hiện tượng sai lệch thông tin trong quá trình kết nối, trao đổi thông tin giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế gây ảnh hưởngtới công tác đăng ký doanh nghiệp cũng như công tác đăng ký thuế.

Vì vậy, cần thiết phải thực hiện việc phối hợp rà soát, đồng bộ thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa hai cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Và hiện nay, công tác phối hợp rà soát đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 23/02/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính, đây là căn cứ cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế phối hợp triển khai, thực hiện hàng năm.

2. Quá trình phối hợp rà soát, đồng bộ thông tin đăng ký doanh nghiệp

a) Phối hợp rà soát, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp

- Xây dựng ứng dụng phần mềm hiệu đính dữ liệu đặt tại trang webhttp://dangkykinhdoanh.gov.vn

Qua theo dõi, đánh giá một số tồn tại của chất lượng dữ liệu đăng ký doanh nghiệp chuyển đổi từ các cơ sở dữ liệu địa phương vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp như: thiếu thông tin mã số doanh nghiệp; thiếu thông tin của địa chỉ trụ sở; sai tình trạng hoạt động của doanh nghiệp,… việc rà soát, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp được bắt đầu tiến hành triển khai từ năm 2011.

 Mục đích của công tác rà soát cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào rà soát đối với dữ liệu chuyển đổi nhằm hạn chế những thông tin sai lệch trong quá trình kết nối, trao đổi thông tin giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế.

Để thực hiện việc rà soát, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp nói trên, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp với Cục Công nghệ thông tin, Tổng Cục thuế xây dựng và hoàn thành ứng dụng phần mềm hiệu đính dữ liệu đặt tại trang webhttp://dangkykinhdoanh.gov.vn để hỗ trợ cho các cán bộ đăng ký kinh doanh triển khai việc rà soát, cập nhật thông tin.

- Trao đổi, cung cấp thông tin về tình trạng người nộp thuế

Song song việc xây dựng ứng dụng phần mềm hiệu đính, việc trao đổi dữ liệu giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh theo Quyết định 1403/QĐ-TCT ngày 01/9/2010 của Tổng Cục thuế về phối hợp trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh cũng đã được thực hiện tự động thông qua việc truyền gửi và nhận thông tin đăng ký doanh nghiệp và tình trạng người nộp thuế định kỳ theo ngày.

Qua đó, các thông tin trên ứng dụng hiệu đính luôn được cập nhật theo thời gian thực, giúp cho người dùng nắm bắt  được những thông tin sát thực đảm bảo phục vụ cho việc triển khai rà soát, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp tại các địa phương.

Ngoài ra, những thông tin cập nhật về tình trạng người nộp thuế đã giúp cho cơ quan đăng ký kinh doanh có thể tham khảo, nghiên cứu và phối hợp cơ quan thuế để so sánh, đối chiếu thông tin giữa hai cơ quan nhằm thống nhất số liệu doanh nghiệp để phục vụ cho công tác báo cáo. Bên cạnh đó, việc nắm bắt được kịp thời thông tin tình trạng người nộp thuế cũng giúp cho các cơ quan quản lý có thể phân loại theo các đối tượng, từ đó là cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp phát triển hay các kế hoạch kiểm tra giám sát đảm bảo đúng trọng tâm và có hiệu quả.

b) Phối hợp rà soát, bổ sung mã số doanh nghiệp

Tháng 7/2015, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã tiếp tục được chuyển đổi bổ sung dữ liệu của hơn 18 nghìn doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc có vốn đầu tư nước ngoài từ các cơ sở dữ liệu về đầu tư tại địa phương. Các dữ liệu chuyển đổi này đa số có thông tin sơ sài và còn thiếu nhiều thông tin quan trọng cũng như có tính chính xác chưa cao. Trên cơ sở kết quả chuyển đổi dữ liệu năm 2015 và qua kiểm tra chất lượng dữ liệu đăng ký doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp cho thấy còn có hơn 130 nghìn doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc (doanh nghiệp) không có mã số thuế đồng thời là mã số doanh nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nhận thức được sự cần thiết phải rà soát để bổ sung mã số doanh nghiệp, từ đầu năm 2016, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp với Tổng Cục thuế tiến hành triển khai hướng dẫn việc rà soát, bổ sung mã số doanh nghiệp cho các địa phương.

Mục đích của công tác rà soát là kiểm tra, đối chiếu thông tin đăng ký doanh nghiệp hiện được lưu trữ tại cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế nhằm xác định ra những doanh nghiệp quản lý chung giữa hai cơ quan trong số 130 nghìn doanh nghiệp trống mã doanh nghiệp, qua đó xác nhận và bổ sung mã số thuế hiện có làm mã số doanh nghiệp.

c) Phối hợp trao đổi thông tin về tình hình hoạt động doanh nghiệp

Ngày 01/9/2010, Tổng Cục thuế ban hành Quyết định 1403/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình phối hợp trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh. Tại Quyết định đã quy định và thống nhất được phương án kết nối, trao đổi thông tin giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và đầu tư) với Hệ thống thông tin đăng ký thuế của Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) với trong quá trình xử lý thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ.

Tiếp đó, ngày 6/10/2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã họp với Bộ Tài chính (Tổng Cục thuế) để rà soát, thống nhất số liệu tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đây cũng là lần đầu tiên số liệu về doanh nghiệp hiện đang còn hoạt động trong nền kinh tế được thống nhất giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký thuế. Trên cơ sở số liệu này, sự khác biệt về số liệu đã dần được loại bỏ giữa hai cơ quan

Ngày 23/02/2016, Liên bộ Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC hướng dẫn việc trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác phối hợp về trao đổi thông tin tình hình hoạt động doanh nghiệpvà là căn cứ cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế phối hợp xây dựng kế hoạch triển khai hàng năm. Thông tư liên tịch chính là kết quả là sản phẩm của quá trình phối hợp, trao đổi thông tin chặt chẽ giữa hai cơ quan mà bắt đầu từ việc cùng thực hiện Quyết định 1403/QĐ-TCT ngày 01/9/2010 của Tổng Cục thuế.

Hiện nay, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh vẫn đã và đang phối hợp chặt chẽ với Tổng Cục thuế trong việc thông tin, trao đổi số liệu thống kê báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp định kỳ hàng tháng theo các trạng thái của doanh nghiệp dùng chung quy định tại Thông tư liên tịch.

3. Tác động của kết quả rà soát đối với công tác quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội

- Về công tác báo cáo, từ năm 2011việc đưa ra số liệu về doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đã cơ bản được thống nhất giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký thuế. Việc nắm bắt chính xác số lượng doanh nghiệp hiện có theo các tình trạng hoạt động là cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước từng bước nâng cao hiệu lực đối với công tác quản lý doanh nghiệp, đồng thời có thể đề xuất, tham mưu các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.

- Về công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký thành lập, việc nắm bắt được số lượng doanh nghiệp hiện có theo các tình trạng hoạt động sẽ giúp cho cơ quan quản lý phân loại được các đối tượng doanh nghiệp cần kiểm tra, giám sát, từ đó tránh được tình trạng kiểm tra chung chung không có trọng điểm. Điều này sẽ là cơ sở cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát doanh nghiệp hướng tới đảm bảo đúng mục tiêu, có hiệu quả đồng thời giảm thiểu các chi phí phát sinh đối với doanh nghiệp.

- Về công tác chống thất thu ngân sách, việc xác định được chính xác số lượng doanh nghiệp theo các tình trạng hoạt động giúp cho các cơ quan quản lý xây dựng được kế hoạch thu ngân sách đảm bảo tính khả thi, chủ động và phân bổ nguồn thu hợp lý.

- Về nâng cao chất lượng công tác hoạch định và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, việc nắm bắt chính xác số lượng các doanh nghiệp hoạt động phân theo quy mô, địa bàn và lĩnh vực giúp cho các cơ quan quản lý có thể đánh giá, tham mưu và đề xuất cho lãnh đạo các giải pháp, kế hoạch phát triển kinh tế theo ngành, vùng lãnh thổ.

- Về nâng cao tính minh bạch cho môi trường đầu tư kinh doanh, qua rà soát việc nắm bắt chính xác số lượng các doanh nghiệp không còn hoạt động giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có các biện pháp quản lý chặt chẽ nhằm hạn chế các rủi ro cho các doanh nghiệp đang hoạt động, đồng thời có thể cung cấp thông tin chính xác cho những tổ chức, cá nhân muốn tìm hiểu thông tin về các doanh nghiệp trên địa bàn.

- Về đẩy mạnh việc xã hội hóa giám sát, từng bước hoàn thiện và nâng cao chất lượng thông tin đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đảm bảo là nguồn cung cấp thông tin chính thống, có giá trị, độ tin cậy cho cộng đồng doanh nghiệp, các bên liên quan và xã hội làm cơ sở cho việc thực hiện xã hội giám sát đối với tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

Nguyễn Thu Hà

Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Lượt xem: 4542

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử