Ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp sửa đổi đã được Quốc hội biểu quyết thông qua thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015. Với mục tiêu đưa doanh nghiệp thành một công cụ kinh doanh rẻ hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không chỉ thay đổi về thủ tục thành lập doanh nghiệp mà còn có nhiều quy định tiến bộ về thủ tục giải thể doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp rút lui thị trường một cách thuận lợi để tiếp tục vòng quay của hoạt động đầu tư. Bài viết dưới đây sẽ phân tích một số thay đổi nổi bật về thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014.

1. Đơn giản hóa thành phần hồ sơ giải thể doanh nghiệp
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc giải thể doanh nghiệp và thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về đầu tư để được giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh.
Hồ sơ giải thể doanh nghiệp quy định tại Điều 40 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp bao gồm:
- Quyết định giải thể hoặc quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố giải thể doanh nghiệp;
- Danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán;
- Danh sách người lao động hiện có và quyền lợi người lao động đã được giải quyết;
- Giấy xác nhận của cơ quan thuế về việc đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế;
- Giấy xác nhận của cơ quan công an về việc hủy con dấu;
-Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư.
Như vậy, trước khi doanh nghiệp nộp hồ sơ giải thể tại Phòng Đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện một số thủ tục hành chính khác, trong đó có thủ tục xin Giấy xác nhận về việc đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế tại cơ quan thuế để hoàn thiện hồ sơ giải thể. Để tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã đơn giản hóa các thành phần hồ sơ giải thể doanh nghiệp.
Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu doanh nghiệp phải nộp Giấy xác nhận của cơ quan thuế về việc đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế và Giấy xác nhận của cơ quan công an về việc hủy con dấu. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng con dấu do cơ quan công an cấp, Khoản 5 Điều 59 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định doanh nghiệp có trách nhiệm trả con dấu, Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu cho cơ quan công an để được cấp giấy xác nhận về việc đã thu hồi con dấu. Trong trường hợp này, con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu trong hồ sơ giải thể doanh nghiệp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 được thay thế bằng giấy xác nhận của cơ quan công an về việc đã thu hồi con dấu. Đối với doanh nghiệp sử dụng con dấu theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, cơ quan đăng ký kinh doanh không yêu cầu doanh nghiệp phải nộp lại con dấu.
Với việc đơn giản hóa hơn nữa các thành phần trong hồ sơ giải thể doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cơ bản tháo gỡ được các vướng mắc cơ bản khi thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005.
2. Công bố công khai và tập trung quyết định giải thể doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì việc công bố quyết định giải thể thực hiện bằng cách đăng báo địa phương hoặc báo ngày của trung ương trong ba số liên tiếp. Tuy nhiên, trên cơ sở kết quả rà soát thủ tục hành chính, ngày 27/12/2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 70/NQ-CP về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; trong đó, phương án đơn giản hóa đối với thủ tục giải thể doanh nghiệp được Chính phủ phê duyệt chỉ tập trung vào hai nội dung là: quy định rõ số lượng bộ hồ sơ giải thể “01 bộ” và việc đăng báo quyết định giải thể của doanh nghiệp cần sửa đổi theo hướng “đăng tập trung tại một hoặc một số tờ báo nhất định, kể cả báo điện tử và cổng thông tin doanh nghiệp của cơ quan quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư”. Do vậy, quy định về công bố nội dung giải thể doanh nghiệp được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 05/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi được thông qua, bản sao quyết định giải thể của doanh nghiệp phải được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan, người lao động trong doanh nghiệp; đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở chính và chi nhánh của doanh nghiệp và đăng quyết định này trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Kế thừa quy định tại Nghị định số 05/2013/NĐ-CP, Luật Doanh nghiệp năm 2014 tiếp tục quy định việc công bố thông tin đăng ký giải thể doanh nghiệp được thực hiện trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, Khoản 3 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và người lao động trong doanh nghiệp. Quyết định giải thể phải được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.
Bảng: Số lượt thực hiện công bố nội dung về giải thể doanh nghiệp
trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Đơn vị: lượt công bố

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Quy định về việc công bố tập trung, công khai quyết định giải thể doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp được đánh giá là một bước tiến lớn trong cải cách thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp; góp phần giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình công khai thông tin, đồng thời, giúp các bên thứ ba, bao gồm người lao động, các đối tác, bạn hàng của doanh nghiệp, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm,... có thông tin đầy đủ, kịp thời để tự bảo vệ quyền lợi cho mình.
3. Nâng cao cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp
a. Phối hợp xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 và tiếp tục được kế thừa tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì một trong các trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là trường hợp nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo. Tuy nhiên, cả hai Luật này đều không có quy định thế nào là giả mạo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cơ quan nào có thẩm quyền xác định hành vi giả mạo hồ sơ đăng ký của doanh nghiệp. Để có cơ sở xác định hành vi vi phạm của doanh nghiệp, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã có quy định xác định trách nhiệm của cơ quan công an trong việc xác định hành vi giả mạo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở đề nghị của cơ quan đăng ký kinh doanh. Theo đó, trường hợp cần xác minh hành vi giả mạo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp để làm cơ sở thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh gửi văn bản đề nghị cơ quan công an xác định hành vi giả mạo. Cơ quan công an có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về kết quả xác minh theo đề nghị của Phòng Đăng ký kinh doanh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị. Căn cứ kết luận của cơ quan công an, Phòng Đăng ký kinh doanh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục quy định tại Khoản 1 Điều 63 Nghị định này nếu nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo. Việc xác định rõ khái niệm và thẩm quyền xác định hành vi là giả mạo sẽ là cơ sở để cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định, tránh tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư kinh doanh ở nước ta.
b. Phối hợp trong việc trao đổi thông tin về giải thể doanh nghiệp
Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục giải thể, đồng thời đảm bảo công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp giải thể, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã bổ sung một số quy định về cơ chế phối hợp trong công tác giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc giải thể doanh nghiệp. Theo đó, sau khi nhận được hồ sơ giải thể của doanh nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Phòng Đăng ký kinh doanh gửi thông tin về việc doanh nghiệp đăng ký giải thể cho cơ quan thuế. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của Phòng Đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế gửi ý kiến về việc giải thể của doanh nghiệp đến Phòng đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Phòng Đăng ký kinh doanh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sang tình trạng giải thể nếu không nhận được ý kiến từ chối của cơ quan thuế, đồng thời ra Thông báo về việc giải thể của doanh nghiệp.
4. Bổ sung quy định về chế tài xử lý đối với người quản lý của doanh nghiệp giải thể
Trong một số trường hợp, khi làm hồ sơ giải thể, chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp kê khai không trung thực, không chính xác các khoản nợ, hoặc chỉ thông báo về các khoản nợ đối với các cơ quan nhà nước, giấu những khoản nợ với các chủ nợ cá nhân, các khoản nợ lương của người lao động hoặc kê khai rằng đã thanh toán hết các khoản nợ để đủ điều kiện được giải thể dù trên thực tế họ chưa hoàn thành các nghĩa vụ tài chính đó. Luật Doanh nghiệp năm 2005 không có quy định về trách nhiệm của chủ doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp kê khai không trung thực, không chính xác này.
Để giải quyết vấn đề nêu trên, Khoản 2, Khoản 3 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về trách nhiệm cá nhân đối với tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người nêu trên phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Quy định nêu trên được đánh giá là góp phần nâng cao trách nhiệm của người quản lý thông qua việc làm rõ trách nhiệm cá nhân của người quản lý doanh nghiệp trong việc thực hiện quy định về giải thể doanh nghiệp.
5. Bổ sung cơ chế cho phép khôi phục tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sau khi bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 93 Luật Quản lý thuế năm 2006, (sửa đổi bổ sung năm 2012) thì một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế là việc cơ quan thuế yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp vi phạm. Biện pháp cưỡng chế này sẽ được chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền thuế, tiền phạt đã được nộp vào ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở đó, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã bổ sung quy định về việc khôi phục tình trạng pháp lý sau khi thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, trường hợp xác định doanh nghiệp không thuộc trường hợp phải thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh ra quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và đề nghị khôi phục tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Quy định này được xây dựng với mục đích tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp được hoạt động kinh doanh trở lại khi đã kịp thời khắc phục hậu quả do vi phạm quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp.
Hoàng Thanh Tuấn
Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh