CHUYÊN ĐỀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ ÁP DỤNG VÀO VIỆT NAM TRONG THÀNH LẬP, HOẠT ĐỘNG VÀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

Thứ hai, 19/10/2015 16:20 GMT+7
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU VỀ DNXH Ở VIỆT NAM

1. Khái niệm về doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là một khái niệm rất mới ở Việt Nam, chính thức được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo đó, DNXH phải đáp ứng các tiêu chí: (1) là doanh nghiệp đăng ký thành lập theo Luật Doanh nghiệp, (2) mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng, (3) sử dụng trên 51% lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Với định nghĩa cơ bản về DNXH được xác định cụ thể tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, xã hội đang rất kỳ vọng kể từ khi Luật này có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2015 thì số lượng DNXH sẽ ngày càng gia tăng nếu Nhà nước chú trọng hoàn thiện khung khổ pháp lý đủ mạnh để khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp vì xã hội và cộng đồng.

DNXH đã xuất hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới như tại Vương quốc Anh, Mỹ, Canada, Ý, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Hồng Kông. DNXH đầu tiên xuất hiện ở nước Anh vào năm 1665. Từ hơn hai thập niên trở lại đây, DNXH đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới và đã được pháp lý hoá tại các văn bản luật, nghị định ở một số quốc gia. Tuy nhiên, cho đến nay, thế giới chưa có một khái niệm chung và chuẩn về DNXH nhưng về bản chất là đều hướng tới một mục tiêu chung là vì xã hội và cộng đồng. Trong Chiến lược phát triển DNXH năm 2002[1], Chính phủ Anh định nghĩa: “DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), “DNXH là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngoài ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.”

Theo số liệu khảo sát năm 2011 của Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng – (CSIP) và Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Xã hội Tia Sáng (Spark) [2], hiện nay, ở nước ta có gần 200 tổ chức được xem có đầy đủ các đặc điểm của DNXH, trong đó, các tổ chức đi tiên phong được thành lập từ thập niên 1990.

2. Sự cần thiết nghiên cứu về DNXH

Do khái niệm của Việt Nam về DNXH và một số quyền, nghĩa vụ cơ bản liên quan mới chỉ được quy định một cách khái quát và mang tính nguyên tắc tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 nên không khỏi phát sinh các hạn chế liên quan đến quá trình tổ chức, thành lập và hoạt động của DNXH nếu không được cụ thể hóa tại các văn bản hướng dẫn thi hành. Các hạn chế cơ bản xin được nêu ra như sau:

- Sự nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của DNXH chưa được đầy đủ và toàn diện;

- Khung pháp lý điều chỉnh về thành lập, hoạt động và các chính sách hỗ trợ phát triển cho DNXH chưa có và bước đầu đang được xây dựng;

- Quá trình thành lập và hoạt động của DN đã đáp ứng là DNXH đã diễn ra từ nhiều năm trước do điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội, nay cần có sự phối hợp, đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước để quản lý và phát triển loại hình này cả về chất và lượng.

Do vậy, Chuyên đề này tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia có khung pháp lý cơ bản về DNXH hoặc có nhiều chính sách hỗ trợ DNXH, trên cơ sở đó, liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam và đề xuất một số kiến nghị về chính sách nhằm hoàn thiện, phát triển DNXH tại Việt Nam.      

 

PHẦN II: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1. Vương quốc Anh

Vương quốc Anh là quốc gia đầu tiên xuất hiện DNXH cách đây đúng 350 năm[3]. Sau này, DNXH ở Anh hoạt động dưới rất nhiều hình thức tổ chức và địa vị pháp lý đa dạng như Công ty vì Lợi ích Cộng đồng, Các Hội ái hữu và Làng nghề, Các tổ chức từ thiện, thậm chí cả Công ty CP hoặc Công ty TNHH. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, loại hình DNXH được thừa nhận chính thức tại Luật Công ty (Kiểm toán, Kiểm tra và Doanh nghiệp cộng đồng) năm 2004[4] và Luật Công ty 2006, đó là Công ty vì lợi ích cộng đồng (Community Interest Company - CIC) với mong muốn sử dụng tài sản và lợi nhuận của mình cho các mục tiêu xã hội.

Theo báo cáo ngắn năm 2012, tại Anh hiện có 68.000 DNXH, đóng góp 24 tỷ bảng vào nền kinh tế và sử dụng gần 01 triệu lao động.

1.1. Về thủ tục thành lập

Tại quốc gia này, Cơ quan đăng ký kinh doanh (Companies House) đồng thời cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp thông thường và CIC. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ đăng ký thành lập CIC, theo Điều 36 Luật Công ty (Kiểm toán, Kiểm tra và Doanh nghiệp cộng đồng) năm 2004, Cơ quan ĐKKD sẽ chuyển (forward) một bộ bản sao hồ sơ đăng ký cho Bộ phận xét duyệt CIC (CIC Regulator) và chờ khi có phản hồi của Bộ phận xét duyệt thì mới tiến hành nghiệp vụ tiếp theo. Bộ phận xét duyệt CIC tiến hành thẩm định hồ sơ đăng ký thành lập loại hình CIC. Trường hợp đủ điều kiện, Bộ phận xét duyệt CIC gửi thông báo hồ sơ đáp ứng điều kiện tới Cơ quan ĐKKD. Tại thời điểm này, cán bộ ĐKKD bắt đầu thực hiện quá trình đăng ký và cấp giấy chứng nhận cho doanh nghiệp là CIC.

Khoản 4 Điều 32 Luật Công ty (Kiểm toán, Kiểm tra và Doanh nghiệp cộng đồng) năm 2004 quy định Điều lệ thành lập CIC phải bao gồm:

1. Quy định về chuyển giao và phân bổ tài sản của công ty

2. Quy định về chi trả lợi ích về các khoản nợ, vay của công ty

3. Quy định về thành viên công ty

4. Quy định về quyền bỏ phiếu trong công ty

5. Quy định về đề cử và rút lui giám đốc

6. Quy định về quyền bầu giám đốc

1.2. Quy định về tên DNXH

Điều 33 Luật Công ty (Kiểm toán, Kiểm tra và Doanh nghiệp cộng đồng) năm 2004 có quy định: nếu không phải công ty đại chúng thì tên DNXH thuộc loại hình Công ty vì Lợi ích Cộng đồng phải kết thúc là “Community Interest Company” hoặc “CIC”; trường hợp là công ty đại chúng thì tên của Công ty vì Lợi ích Cộng đồng phải kết thúc là “Community Interest Public Limited Company” hoặc “Community Interest P.L.C”.

Khoản 6  Luật Công ty (Kiểm toán, Kiểm tra và Doanh nghiệp cộng đồng) 2004 cấm mọi cá nhân, doanh nghiệp không phải là công ty CIC tiến hành hoạt động thương mại, trong đó: dùng để giao dịch, sở hữu hoặc sử dụng tên “Community Interest Company”. Nếu vi phạm thì cá nhân, doanh nghiệp sẽ bị phạt theo Mức 3 (tương đương 1.000 bảng Anh), đồng thời bất kể nhân viên trong công ty đó bị xử phạt theo. Trường hợp tiếp tục vi phạm thì công ty phải chịu mức phạt mỗi ngày là 100 bảng.        

1.3. Cơ quan quản lý nhà nước về DNXH

Năm 2002, chính phủ Anh lần đầu tiên đưa ra Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội và thành lập Bộ phận Doanh nghiệp xã hội (Social Enterprises Unit - SEnU) trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp (UK Department of Trade and Industry DTI). Bộ phận này hoạt động chính để xây dựng các chính sách phát triển DNXH, xác định các rào cản đối với DNXH và phổ biến các bài học thành công trong hoạt động của DNXH tới các DNXH khác. Năm 2006, Bộ phận này trở thành Văn phòng Khu vực thứ Ba (Office of the Third Sector), thuộc Văn phòng Nội các (Cabinet office). Năm 2010, Văn phòng Khu vực thứ Ba trở thành Văn phòng Xã hội Dân sự (Office for Civil Society) thuộc Văn phòng Nội các, chịu trách nhiệm hỗ trợ các DNXH, tổ chức tình nguyện và tổ chức từ thiện.

1.4. Chính sách hỗ trợ và ưu đãi

Năm 2006, Chính phủ Anh đưa ra Kế hoạch hành động về DNXH, trong đó có sự tham gia liên ngành của 12 bộ, ngành khác nhau và Văn phòng Khu vực thứ Ba để thúc đẩy và hỗ trợ DNXH thông qua hàng loạt chính sách như (i) chương trình đào tạo DNXH, thúc đẩy truyền thông; (ii) Tư vấn thành lập và thông tin phát triển DNXH; (iii) Cải thiện tiếp cận nguồn vốn tài chính và đa dạng hóa các hình thức đầu tư như: phát triển dịch vụ công,xây dựng Quỹ đầu tư mạo hiểm, Chương trình Đầu tư xã hội để cung cấp vốn và tăng khả năng thanh toán cho các tổ chức trung gian đầu tư và các DNXH, khuyến khích đầu tư vào DNXH, tập huấn về quản lý tài chính; (i4) Tạo điều kiện hợp tác giữa DNXH với Chính phủ.

Năm 2010, Thủ tướng Anh David Cameron khởi xướng Tầm nhìn về một Xã hội lớn (Big Society) để giúp người dân hợp tác và cải thiện đời sống của mình. Đây được coi là một nỗ lực lớn của Chính phủ nhằm xác định lại vai trò của nhà nước và thúc đẩy tinh thần doanh nhân trong cộng đồng. Văn phòng Xã hội Dân sự giúp điều phối các bộ, ban ngành liên quan và thực hiện chính sách này của Chính phủ thông qua các chương trình sau:

  • Quỹ Xã hội lớn (Big Society Capital Fund) được thành lập tháng 3 năm 2012 với tổng số tiền 600 triệu bảng Anh được sử dụng từ các tài khoản bị đóng băng trong 15 năm để đầu tư cho các dự án xã hội. Các dự án hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận thì sẽ trả lại vốn và lãi cho Quỹ. Quỹ này không đầu tư trực tiếp cho DNXH mà tập trung vào các tổ chức trung gian tài chính đầu tư xã hội và tìm kiếm cả hai nguồn thu về đầu tư về tài chính và xã hội.
  • Chương trình Dịch vụ Công dân (National Citizen Service - NCS) tập hợp các bạn trẻ trên 16 tuổi từ các hoàn cảnh sống khác nhau để thực hiện các hoạt động phát triển cộng đồng.
  • Chương trình hỗ trợ các nhà lãnh đạo cộng đồng (Community Organisers Program)
  • Cộng đồng trước tiên (Community first) là một quỹ mới nhằm khuyến khích phát triển các hoạt động xã hội trong các nhóm dân cư ở những vùng khó khăn và kém phát triển.

Với những chính sách tích cực của Chính phủ hướng tới DNXH và nỗ lực rất lớn của các tổ chức trung gian, các DNXH và các bên liên quan trên đã hình thành nên một “hệ sinh thái” cho DNXH phát triển khá toàn diện ở Vương quốc Anh.

2. Italy

Italy là quốc gia tại Châu Âu sớm áp dụng mô hình pháp lý về DNXH. Xuất phát điểm từ năm 1991, Luật số 381 được ban hành và lần đầu tiên có quy định về hợp tác xã xã hội (social co-operatives). Nhưng mãi sau 14 năm, Điều 1 Luật số 118 ngày 13/6/2005 mới có quy định về DNXH như sau: DNXH được hiểu là các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện hoạt động kinh tế về sản xuất hay trao đổi hàng hóa, dịch vụ về tiện ích xã hội (social utility) nhằm đạt được các mục tiêu lợi ích chung.

Tiếp đó, Điều 1 Nghị định số 155 ngày 24/3/2006 đưa ra định nghĩa về DNXH, đó là tất cả các tổ chức tư nhân được liệt kê tại Bộ luật Dân sự tại Quyển 5 được xác định là DNXH khi: thực hiện hoạt động kinh tế một cách cơ bản và ổn định trong việc sản xuất hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ về tiện ích xã hội (social utility)[5]nhằm theo đuổi các mục tiêu lợi ích chung. Khoản 3 Điều 2 Nghị định này quy định thu nhập từ hoạt động kinh doanh chính của DNXH phải chiếm ít nhất 70% tổng thu nhập của DNXH.

Như vậy, DNXH phải thỏa mãn 3 tiêu chí: (i) là một tổ chức tư nhân, (ii) thực hiện hoạt động kinh doanh về hàng hóa hay dịch vụ về tiện ích xã hội và (iii) phải vì lợi ích chung và không vì lợi nhuận.

Tuy nhiên, pháp luật của Italy quy định về DNXH vẫn chưa đầy đủ nên còn nhiều hạn chế như việc cấm phân phối lợi nhuận bao gồm cả gián tiếp, cũng như sự thiếu hụt các chính sách thông tin, các dịch vụ hỗ trợ hành chính và lợi ích thực từ chính phủ và các đối tác.

Theo số liệu do Viện thống kê quốc gia - National Institute for Statistics, viết tắt là Istat (dữ liệu được trích xuất ngày 18/02/2014) [6]: quốc gia này có 34.840 doanh nghiệp được coi là DNXH, trong đó, (i) pháp lý thừa nhận DNXH có 11.264 hợp tác xã xã hội và 1.348 DNXH và (ii) các loại hình doanh nghiệp khác hoạt động không vì lợi nhuận cũng được coi là DNXH (như hiệp hội, quỹ,..) gồm 22.228 doanh nghiệp.

Hiện nay, cơ quan cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp thông thường và DNXH là hai cơ quan độc lập. Đối với doanh nghiệp thông thường, cơ quan cấp là Cơ quan đăng ký thương mại Italy (The Italian Trade Register thuộc Phòng Thương mại – Chamber of Commerce). Trong khi đó, DNXH sẽ được cấp giấy chứng nhận tại Bộ Lao động và Chính sách xã hội.

Về tên DNXH: khoản 1 Điều 7 Nghị định số 155 quy định bắt buộc về tên DNXH phải có cụm từ tiếng Anh là “social enterprise”.

3. Phần Lan

Sau một quá trình dự thảo rất nhanh chóng diễn ra trong mùa hè và mùa thu năm 2003, Luật số 1351/2003 về doanh nghiệp xã hội (Finnish Act on Social Enterprises 1351/2003) ban hành ngày 30/12/2003, có hiệu lực kể ngày 01/01/2004 nhằm giải quyết tình trạng dai dẳng của việc 180.000 người mất làm và 45.000 người khuyết tật thất nghiệp trong tình trạng cực kỳ khó khăn. Do vậy, loại hình DNXH đã ra đời, theo đó, DNXH phải tuyển dụng nhân viên là người khuyết tật và người thất nghiệp trong thời gian dài (số lượng chiếm ít nhất 30% tổng số nhân viên) hoặc chỉ có người khuyết tật. Hai năm sau, Bộ Lao động đánh giá tính hiệu quả của Luật này và khuyến nghị để thúc đẩy DNXH phát triển thì cần có chính sách giảm thuế giá trị gia tăng, đầu tư hệ thống,... Sau đó, năm 2008, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung về Luật DNXH, theo đó, DNXH được trợ cấp của Nhà nước để chi trả tiền lương cho nhân viên nếu nhân viên là người khuyết tật hoặc người bị thất nghiệp trong thời gian dài.

Về tên DNXH: theo Điều 2 Luật DNXH năm 2003 thì chỉ những doanh nghiệp đăng ký là DNXH mới có quyền sử dụng tên là DNXH.

Hiện nay, ngoài văn bản luật trên thì khung pháp lý hướng dẫn chi tiết về DNXH tại Phần Lan chưa được xây dựng cụ thể nên nghiên cứu này không có thêm thông tin.

4. Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, Luật Phát triển DNXH (Social Enterprise Promotion Act) được ban hành ngày 03/01/2007 và tính đến năm 2012 đã trải qua 7 lần sửa đổi, bổ sung. Mục đích của Luật này là đóng góp sự hội nhập xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân thông qua việc phát triển các dịch vụ xã hội khi đời sống xã hội chưa được cung ứng đủ, tạo công ăn việc làm thông qua việc hỗ trợ tạo lập và điều hành các DNXH và thúc đẩy DNXH[7].

Thực hiện các quy định tại Luật Phát triển DNXH, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Nghị định hướng dẫn vào ngày 29/6/2007. Tính đến hết năm 2013, Nghị định này đã được sửa đổi bổ sung đến 11 lần.

Theo thống kê của Cục khuyến khích doanh nghiệp xã hội (Korea Social Enterprise Promotion Agency - KoSEA), tính đến 31/12/2013, có 950 doanh nghiệp được KoSEA cấp Giấy chứng nhận là DNXH.

4.1. Cơ quan quản lý nhà nước về DNXH

Bộ trưởng Lao động và Việc làm thành lập KoSEA để thực thi việc khuyến khích và thúc đẩy DNXH. Hội đồng này có Ban Điều hành gồm không quá 15 giám đốc, có Chủ tịch và một kiểm toán viên. Về hình thức, Hội đồng này là một tập đoàn. Hội đồng này tiến hành các hoạt động sau: (1) Đào tạo DNXH, phát hiện các mô hình DNXH và hỗ trợ thương mại hoá; (2) Giám sát và đánh giá DNXH; (3) Giúp xây dựng và điều hành mạng lưới các DNXH theo ngành, khu vực và toàn quốc; (4) Xây dựng và vận hành trang mạng về DNXH và tích hợp các hệ thống thông tin; (5) Cung cấp các dịch vụ tư vấn cho các DNXH về các lĩnh vực: quản lý kinh doanh, công nghệ, thuế, lao động, kế toán,… ; và (6) Hợp tác quốc tế liên quan đến DNXH.

4.2. Điều kiện để trở thành DNXH

1. Là tập đoàn hay hiệp hội (theo Bộ luật Dân sự) hoặc là công ty (theo Luật Thương mại) hoặc là tổ chức tư phi lợi nhuận[8];

2. Mục tiêu chính là phục vụ xã hội như: cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương, cung cấp dịch vụ xã hội tới các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn hoặc tạo việc làm hoặc đóng góp cho cộng đồng địa phương[9];

3. Hồ sơ đăng ký thành lập DNXH phải bao gồm đầy đủ nội dung thông tin và phù hợp với quy định nêu tại Điều 9 Luật Phát triển DNXH;

4. Doanh thu phải đáp ứng hoặc vượt quá chuẩn được nêu tại sắc lệnh của địa phương;

5. Có kế hoạch phân bổ lợi nhuận theo từng năm tài chính, theo đó, phải dành ít nhất 2/3 lợi nhuận cho các mục tiêu về xã hội.[10]

4.3. Hồ sơ đăng ký thành lập DNXH

Theo Khoản 1 Điều 9 Luật Phát triển DNXH và các văn bản hướng dẫn thi hành, hồ sơ đăng ký thành lập DNXH phải có đầy đủ các thông tin sau:

1. Đơn đăng ký thành lập (tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp lựa chọn, ví dụ (i) nếu doanh nghiệp là tập đoàn hoặc hiệp hội thì dùng form theo Luật Dân sự, (ii) công ty hoặc hữu hạn hoặc hợp danh thì dùng form theo Luật Thương mại, (iii) tập đoàn hay tổ chức tư phi lợi nhuận thì dùng form của Luật đặc thù).

2. Văn bản thể hiện các cuộc họp quan trọng của Hội đồng cao nhất của doanh nghiệp, Đại hội cổ đông, Ban giám đốc, Ban điều hành, Hội đồng quản lý nhân sự để đưa ra các quyết định về các bên liên quan: đại diện người lao động, đại diện người hưởng lợi các dịch vụ xã hội, đại chiện chính quyền địa phương,…

3. Văn bản chứng minh đến các hoạt động kinh doanh về thu nhập và chi phí, trong đó yêu cầu tổng thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong 6 tháng gần nhất trước ngày đăng ký thành lập DNXH chiếm trên 30% tổng chi phí lao động, bao gồm:

3.1  Về thu nhập:

       3.1.1    Báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo thu nhập, Báo cáo sản xuất): (bắt buộc phải có)

       3.1.2    Chứng nhận thuế VAT (VAT Tax Base Certificate) của cơ quan thuế: (bắt buộc phải có)

       3.1.3    VAT of General Taxpayers (của cơ quan thuế)

       3.1.4    Sổ cái (Sổ kế toán, Sổ doanh số, Sổ tiền mặt,…): (bắt buộc phải có)

       3.1.5    Báo cáo đóng (Closing Statement),…

       3.2  Về chi phí lao động:

       3.2.1    Các báo cáo tài chính

       3.2.2    Bảng lương,…: (bắt buộc phải có)

4          Điều lệ doanh nghiệp xã hội có đầy đủ các thông tin sau:

       4.1       Mục đích

       4.2       Nội dung kinh doanh

       4.3       Tên doanh nghiệp

       4.4       Địa điểm trụ sở chính

       4.5       Loại hình, phương thức  hoạt động, phương thức ra các quyết định quan trọng

       4.6       Phương án chia sẻ lợi nhuận và tái đầu tư

       4.7       Phương án huy động vốn và các khoản vay

       4.8       Phương án bố trí, đề cử và sa thải người lao động

       4.9       Phương án giải thể và thanh toán nợ (khi công ty tặng cho ít nhất 2/3 toàn bộ tài sản còn lại cho DNXH khác hoặc cho quỹ vì lợi ích công)

       4.10  Các nội dung khác được quy định tại Nghị định hướng dẫn (gồm: chi nhánh, tài chính và kế toán của DNXH).

4.4. Trình tự đăng ký DNXH

Hiện tại, quá trình cấp đăng ký DNXH được tách biệt với cấp đăng ký cho DN thông thường. Đối với DN thông thường, việc đăng ký được thực hiện tại Cơ quan đăng ký doanh nghiệp quốc gia (National Business Register), trong khi đó, DNXH phải đăng ký thành lập tại Bộ Lao động và Việc làm.  

4.5. Thẩm định việc đăng ký thành lập DNXH

Việc đánh giá doanh nghiệp có đảm bảo là DNXH hay không được dựa vào các tiêu chí chính như sau(Điều 9 Nghị định số 20141 hướng dẫn thi hành Luật Phát triển DNXH):

1.  Mục  tiêu chính của tổ chức có phải cung cấp dịch vụ xã hội cho nhóm đối tượng bị yếu thế hay không: căn cứ vào tỷ lệ nhóm người bị yếu thế trong tổng số  những người nhận được các dịch vụ xã hội  từ tổ chức đó, sẽ chiếm 50/100 hoặc nhiều hơn (đến 31/12/2016 thì tỷ lệ còn 30/100);

2. Mục  tiêu chính của tổ chức có phải cung cấp dịch vụ xã hội cho nhóm đối tượng bị yếu thế hay không: căn cứ vào tỷ lệ nhóm người bị yếu thế được tuyển dụng làm việc tại tổ chức trong tổng số  nhân viên của tổ chức đó, sẽ chiếm 50/100 hoặc nhiều hơn (đến 31/12/2016 thì tỷ lệ còn 30/100);

3. Mục  tiêu chính của tổ chức có phải đóng góp cho cộng đồng địa phương hay không, trong đó phải đáp ứng các tiêu chí sau:

3.1. Mục tiêu chính là tăng thu nhập và tạo việc làm cho người dân địa phương: đánh giá tỷ lệ người bị yếu thế tại địa phương nơi tổ chức đặt trụ sở chính được tuyển dụng trên tổng số nhân viên của tổ chức hoặc tỷ lệ người bị yếu thế trên tổng số người nhận được các dịch vụ xã hội từ tổ chức đó đạt từ 20/100 trở lên;

3.2. Mục tiêu chính có phải giải quyết các vấn đề xã hội như nạn đói, vấn đề bị đẩy ra bên lề xã hội, vấn đề tội phạm tại địa phương hay không: đánh giá mức doanh thu hoặc chi tiêu liên quan đên mục tiêu chính của tổ chức trên tổng số doanh thu mà tổ chức kiếm được chiếm từ 40/100 trở lên;

3.3. Mục tiêu chính có phải cung cấp tư vấn, các dịch vụ thị trường, tài chính,… cho các tổ chức ưu tiên theo đuổi mục tiêu vì xã hội như cung ứng các dịch vụ xã hội hoặc tạo việc làm cho cộng đồng địa phương, hoặc tăng chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương hay không: đánh giá mức doanh thu hoặc chi tiêu liên quan đến mục tiêu chính của tổ chức trên tổng số doanh thu mà tổ chức kiếm được chiếm từ 40/100 trở lên;

4. Mục  tiêu chính của tổ chức có phải cung cấp việc làm và các dịch vụ xã hội cho nhóm người bị yếu thế hay không: đánh giá tỷ lệ những người bị yếu thế được tuyển dụng trên tổng số nhân viên của tổ chức và tỷ lệ những người bị yếu thế trên tổng số người nhận được các dịch vụ xã hội chiếm từ 30/100 trở lên (đến 31/12/2015 thì giảm còn 20/100)

Trường hợp khó xác định được các tiêu chí trên, Bộ trưởng Lao động và Việc làm sẽ căn cứ vào kết quả thẩm định của Hội đồng Chính sách để đưa ra quyết định cuối cùng là cấp hoặc không cấp Giấy chứng nhận DNXH.

4.6. Quy định về tên DNXH

Tại Hàn Quốc, theo Điều 19 Luật Phát triển DNXH năm 2007, nếu không phải là DNXH thì không được sử dụng tên là DNXH hoặc các tên tương tự. Điểm 2 khoản 1 Điều 23 Luật này quy định mức khung nếu vi phạm sử dụng tên là DNXH tại Điều 19 không quá 10 triệu won. Tại Nghị định số 20141 hướng dẫn Luật Phát triển DNXH năm 2007, hành vi vi phạm sử dụng tên DNXH hoặc có tên tương tự thì bị xử phạt 5 triệu won.

4.7. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước

- Hỗ trợ kinh doanh: theo quy định tại Điều 10 Luật Phát triển DNXH, Bộ Lao động và Việc làm có trách nhiệm cung cấp, hỗ trợ về lời khuyên chuyên gia, thông tin,… về các lĩnh vực quản lý kinh doanh, công nghệ, thuế, lao động, kế toán,… Đồng thời, giao cho các tổ chức được nhà nước cấp ngân sách hoặc các tổ chức tư (được quy định tại các quy định của địa phương) tiến hành hỗ trợ kinh doanh cho các DNXH.

- Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: tại Điều 10-2 Luật Phát triển DNXH, Bộ Lao động và Việc làm thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho lực lượng lao động lành nghề để phục vụ quá trình thành lập và hoạt động của DNXH.

- Hỗ trợ về mặt chi tiêu: Điều 11 Luật Phát triển DNXH quy định Nhà nước hoặc chính quyền địa phương cung cấp trợ cấp, các khoản vay khi mua đất, cho thuê đất công và đất quốc gia phục vụ quá trình thành lập và hoạt động của DNXH.

- Hỗ trợ mua ưu đãi từ các tổ chức công: tại Điều 12 Luật Phát triển DNXH, lãnh đạo các tổ chức công theo quy định tại Luật xúc tiến DN nhỏ và vừa có thể hỗ trợ mua ưu đãi các hàng hóa, dịch vụ của DNXH.

- Giảm hoặc miễn trừ thuế và hỗ trợ bảo hiểm xã hội: Điều 13 Luật Phát triển DNXH quy định Nhà nước hoặc chính quyền địa phương có thể giảm hoặc miễn thuế quốc gia hoặc thuế địa phương theo các điều kiện được quy định tại Luật thuế doanh nghiệp và một số luật thuế khác. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng hỗ trợ bảo hiểm và đền bù tai nạn lao động.

- Hỗ trợ về tài chính cho các DNXH cung cấp các dịch vụ xã hội: theo quy định tại Điều 14 Luật Phát triển DNXH, Bộ trưởng Lao động và Việc làm thực hiện cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tài chính như chi phí lao động, phí điều hành, phí tư vấn,…

Để triển khai hiệu quả các quy định trên, tại cấp Trung ương, Nhà nước thực thi các chính sách hỗ trợ cho DNXH nhằm mở rộng các dịch vụ xã hội và tạo việc làm, đồng thời, tại cấp địa phương, chính quyền cũng tự xây dựng và thực hiện các chính sách hỗ trợ DNXH để đảm bảo phù hợp với đặc điểm của địa phương. Hiện nay, DNXH tại Hàn Quốc đang nhận được sự hỗ trợ tích cực từ hai cấp sau:

- Tại cấp Trung ương, DNXH được giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu hoạt động. Trong năm 2012, trường hợp nếu không nhận Chính phủ hỗ trợ tài chính thì hàng tháng DNXH sẽ được nhận khoản trợ cấp lên tới 85.000 won trong vòng  4 năm để chi trả phí bảo hiểm xã hội mà DNXH đã trả cho người lao động. Tiếp đó, Cơ quan bảo hộ thị trường hàng hoá và dịch vụ của DNXH sẽ triển khai việc mua hoặc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của DNXH, cụ thể, trong năm 2011, đã có tới 185.299 triệu won được sử dụng vào việc này. Thêm nữa, để thúc đẩy DNXH phát triển, Chính phủ cung cấp các khoản trợ cấp tới các quỹ, lời khuyên, tư vấn kinh doanh thông qua các chuyên gia địa phương hoặc các nhà quản lý giỏi, các chương trình giáo dục, đào tạo cho DNXH.

- Tại cấp địa phương, cuối năm 2011, 200 chính quyền địa phương đã ban hành thông tư hướng dẫn để thúc đẩy và hỗ trợ DNXH. Cuối tháng 8/2012, đã có 1.522 DNXH nhận được hỗ trợ chi phí lao động và phát triển kinh doanh.[12]

4.8. Chính sách miễn giảm thuế

Theo quy định tại khoản 6 Điều 85 Luật kiểm soát đối xử thuế đặc biệt (The Special Tax Treatment Control Law), DNXH được cấp giấy chứng nhận hết năm 2013 sẽ được miễn 50% tiền thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân trong vòng 3 năm kể từ năm DNXH có thu nhập đầu tiên. Tuy nhiên, DNXH phải gửi đơn xin miễn giảm. Trường hợp DNXH không duy trì đủ điều kiện là DNXH theo giấy chứng nhận được cấp được quy địnhtại Luật Phát triển DNXH thì DNXH sẽ không được hưởng miễn giảm thuế nữa.

Theo khoản 4 Điều 22, Luật kiểm soát đối xử thuế đặc biệt, DNXH được miễn giảm thuế địa phương (local taxes) đến hết năm 2013, bao gồm: (i) miễn 50% thuế thu mua (acquisition tax) đối với bất động sản nếu bất động sản đó được sử dụng hoàn toàn làm nơi làm việc; (ii) trường hợp DNXH đăng ký là tập đoàn thì sẽ được miễn 50% thuế đăng ký kinh doanh và giấy phép (the registration & license tax); và (iii) miễn 25% thuế tài sản nếu mua bất động sản dùng hoàn toàn làm nơi làm việc. Tuy nhiên, theo Điều 18 Luật Phát triển DNXH, DNXH sẽ không được hưởng miễn các giảm thuế trên nếu DNXH bị rút giấy chứng nhận là DNXH do không đảm bảo các điều kiện là DNXH hoặc bất động sản được sử dụng vào các mục đích khác.

4.9. Thách thức đối với DNXH

          Mặc dù DNXH tại Hàn Quốc nhận được nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ từ Nhà nước nhưng DNXH vẫn thường gặp nhiều khó khăn về tài chính. Theo Báo cáo Phát triển DNXH tại Hàn Quốc của Noh, Hee Jin thuộc Viện thị trường vốn Hàn Quốc (Korea Capital Market Institute), nếu không có hỗ trợ tài chính từ bên ngoài thì chỉ có khoảng 16,1% DNXH là phát triển bền vững. Ước tính rằng, tổng số tài sản của DNXH được xác thực đạt 300 triệu won thì trong số đó có tới 90% đều từ các khoản trợ cấp của Chính phủ hoặc từ các tổ chức công. Do vậy, hiện nay, DNXH dựa chủ yếu vào khoản tài trợ này đang gặp nhiều khó khăn về thu hút đầu tư xã hội. Nếu DNXH không thể hoàn trả các khoản vay lãi suất thấp thì sẽ dẫn đến gánh nặng cho những người nộp thuế.

5. Singapore

Hiện nay, tại Singapore chưa có văn bản pháp lý nào quy định thuật ngữ “DNXH” nên DNXH thành lập dưới các loại hình khác nhau. Hiện tại, duy nhất chỉ có loại hình hợp tác xã được quy định tại Luật Hợp tác xã xã hội (Co-operative Societies Act) và các Quy tắc xã hội hợp tác xã (Co-operative Societies Rules (CSR) năm 2009.

Năm 2006, Bộ Phát triển Cộng đồng, Thanh niên và Thể thao (Ministry of Community Development, Youth and Sports) thành lập một Phòng Doanh nghiệp xã hội. Bộ phận này nhận được hỗ trợ của Chính phủ, khu vực tư nhân, giới trí thức và các tổ chức xã hội dân sự để tìm hướng giúp phát triển xã hội. Ngày 01/12/2012, Bộ này đã được cấu trúc lại, đổi tên thành Bộ Phát triển gia đình và xã hội (Ministry of Social and Family Development) và thực hiện hàng loạt các kế hoạch tài trợ ngân sách cho DNXH thông qua các quỹ.

Để thúc đẩy sự phát triển DNXH, Singapore thành lập Hiệp hội DNXH. Ngoài ra, phục vụ công tác đào tạo và tư vấn năng lực thể chế cho DNXH, Singapore còn thành lập Trung tâm phát triển DNXH - The Social Enterprise Development Centre (SEDC). 

Hiện tại, Singapore không có sự tách biệt về luật và khung pháp lý điều chỉnh cho riêng DNXH. Quốc gia này coi DNXH như là một pháp nhân thương mại nên được điều chỉnh chung như đối với doanh nghiệp thông thường. Do vậy, việc đăng ký DNXH hay DN thường tại Singapore đều được thực hiện tại Cơ quan đăng ký pháp lý doanh nghiệp và Kế toán (Accounting and Corporate Regulatory Authority -ACRA) theo quy trình, thủ tục đăng ký doanh nghiệp chuẩn.

DNXH tại Singapore được thành lập và hoạt động theo các loại hình sau: (1) Doanh nghiệp một chủ - Sole proprietorship, (2) Công ty hợp danh – Partnership, (3) Công ty TNHH hợp danh - Limited Liability Partnership –LLP, (4) Công ty hợp danh hữu hạn - Limited Partnership – LP, (5) Công ty tư nhân, công ty đại chúng - Private Limited, Public Limited, (6) Công ty hữu hạn đại chúng được bảo đảm - Public Company Limited by Guarantee – CLG, (7) Hợp tác xã - Co-operative Society. Trong một số trường hợp, DNXH được xem xét, điều chỉnh tại Luật xã hội hợp tác (Co-operative Societies Act - CSA) và Quy tắc xã hội hợp tác xã (Co-operative Societies Rules - CSR)

(Ảnh Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long thăm doanh nghiệp NTUC FairPrice vào ngày 17/9/2015. NTUC FairPrice là doanh nghiệp xã hội thành công tại Sigapore, thành lập năm 1973, nay là chuỗi siêu thị bán lẻ lớn nhất gồm gần 300 cửa hàng tại Singapore chuyên phục vụ mọi tầng lớp xã hội[13])

Hiện nay, DNXH đang áp dụng 4 mô hình chính:

  • Mô hình tích hợp công việc: DNXH cung cấp kỹ năng đào tạo và cơ hội việc làm cho các nhóm đối tượng như: người mãn hạn tù, người già, bà mẹ độc thân, người khuyết tật,...
  • Mô hình Profit Plough Back: DNXH tìm kiếm lợi nhuận để tài trợ cho các chương trình xã hội hoặc các tổ chức từ thiện.
  • Mô hình dịch vụ trợ cấp: DNXH cung cấp các dịch vụ trợ cấp cho khách hàng và người khuyết tật và thu phí khách hàng.
  • Mô hình nhu cầu xã hội: DNXH phục vụ các nhu cầu của xã hội hoặc xác định các vấn đề xã hội cụ thể.

Chính sách hỗ trợ từ nhà nước

Hiện nay, Singapore đã đang triển khai một số quỹ hỗ trợ cho DNXH như:

-       Quỹ doanh nghiệp ComCare (ComCare Enterprise Fund -CEF): hỗ trợ các DNXH mới thành lập thông qua việc cung cấp việc làm, cơ hội đào tạo cho cư dân khuyết tật người Singpore. DNXH mới thành lập thoả mãn điều kiện của Quỹ CEF sẽ được hỗ trợ tới 80% tổng chi phí dự án (mua sắm trang thiết bị và chi phí hoạt động trong 2 năm đầu), ước khoảng 300.000 đôla Siangapore.

-       Quỹ thành lập cộng đồng (Community Foundation Fund -CF)

-       Trợ cấp Sáng kiến mới (New Initiative Grant): tài trợ tiền cho khởi sự DNXH hoặc các tổ chức đã thành lập mà đi đầu trong việc đưa ra sáng kiến đáp ứng nhu cầu xã hội. Mức tài trợ lên tới 80% chi phí, đối với các sáng kiến thì trong vòng 2 năm sẽ được cung cấp lên tới 200.000 đô la Singapore.

-       Quỹ Jump Start:giúp cá nhân, nhóm người có ý tưởng thành lập tổ chức chính thức tình nguyện hay từ thiện. Mức hỗ trợ tài chính lên tới 80%  tổng chi phí.

-       Dự án Youth Expedition Project (YEP):hỗ trợ thanh niên từ các tổ chức giao dục và các tổ chức có đăng ký khởi động các dự án hướng tới cộng đồng tại Singapore, Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, mức hỗ trợ lên tới 50% tổng ngân sách (mỗi ứng viên 1.000 đô la Singapore hoặc mỗi dự án là $20.000 đô la Singpore).

-        Young ChangeMakers Grant (YCM):dành cho thế hệ trẻ đam mê tới thay đổi cộng đồng tại Singapore, cung cấp tài chính cho DNXH khi khởi sự, mức tài trợ lên tới 80% chi phí dự án hoặc 3.000 đô la Singapore nếu dự án mạng lại lợi ích cho cộng đồng địa phương hoặc xã hội.

-       Youth Innovation Grant (YIG): do Hội đồng Thanh niên quốc gia quản lý nhằm khuyến khích các sáng kiến, sự đổi mới mang lại lợi ích cho thanh niên. Mức hỗ trợ lên tới 50% ngân sách dự án, tối đa là 50.000 đô la Singapore.

Bảng 2: Tổng hợp một số cơ quan cấp đăng ký doanh nghiệp và cho DNXH tại một số quốc gia nghiên cứu

 

PHẦN III: LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Kể từ trước khi có Luật Doanh nghiệp năm 2014, khái niệm DNXH chưa được thừa nhận tại các văn bản pháp lý nào. Do đó, các tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động chủ yếu vì mục tiêu phát triển xã hội và cộng đồng, phi lợi nhuận hoặc tối ưu nhưng không vì lợi nhuận đều thành lập theo các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp hoặc tổ chức tài chính vi mô hoặc quỹ từ thiện, quỹ xã hội hoặc hợp tác xã hoặc tổ chức khoa học công nghệ.

Một số DNXH khá thành công trong lĩnh vực phát triển cộng đồng và xã hội được liệt kê như là Trường trung cấp Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa, Nhà hàng KOTO tại Hà Nội, Nhà máy pin Ẩn Điện, Công ty TNHH Mai Handicrafts tại TP. Hồ Chí Minh, Công ty CP Tầm nhìn và Giải pháp công nghệ Nghị lực sống, Công ty CP Tò he, Quỹ hỗ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm – CEP, Hợp tác xã Nhân Đạo, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng, … Các DNXH này đều có một số đặc điểm chung là: (i) Có tính tự chủ cao, (ii) Đưa ra các giải pháp xã hội có tính sáng tạo, (iii) Mục tiêu xã hội, môi trường là chủ đạo, được thể hiện xuyên suốt và minh bạch, (i4) Có tính cạnh tranh và định hướng thị trường cao, (i5) Tối ưu nhưng không tối đa lợi nhuận, phần lớn lợi nhuận thu được dùng để tái đầu tư và mở rộng chứ không phải để chia cho nhà đầu tư, (i6) Sở hữu tập thể và cộng đồng, dân chủ và có sự tham gia của những người cùng chia sẻ nhu cầu và mục đích, và (i7) Chấp nhận rủi ro cao.

Hiện nay, khái niệm về DNXH ở Việt Nam mới được định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014. Đây là văn bản pháp lý cao nhất và duy nhất được ban hành tính đến thời điểm hiện nay đã thừa nhận một loại hình kinh tế mới kể từ ngày 01/7/2015. Có thể nói, đây sẽ là một bước ngoặt đối với sự phát triển DNXH tại Việt Nam khi Nhà nước và xã hội đang kỳ vọng vào sự lớn mạnh, phát triển bền vững đối với loại hình doanh nghiệp này. Do vậy, các cơ quan xây dựng chính sách và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan cần nghiên cứu kỹ lưỡng, tham khảo sâu kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này để ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành một cách chi tiết, hiệu quả và kèm theo các chính sách ưu đãi phù hợp thì mới có thể phát huy hết nội lực tiềm tàng khối doanh nghiệp này, đồng thời sẽ mang lại giá trị kép đối với xã hội và cộng đồng.

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm tại một số quốc gia có khung pháp lý tương đối đầy đủ như tại Vương quốc Anh, Hàn Quốc và các quốc gia khác tại phần trước, nghiên cứu này tạm đưa ra một số định hướng để khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển và quản lý hiệu quả DNXH tại Việt Nam trong quá trình xây dựng chính sách đối với loại hình doanh nghiệp này như sau:

1. Về quy định sử dụng tên DNXH

Cần có quy định rõ về việc sử dụng tên doanh nghiệp có cụm từ “xã hội” tại thành tố tên riêng nếu là DNXH. Việc quy định cụ thể tên riêng của doanh nghiệp có cụm từ “xã hội” nhằm mục tiêu phân biệt giữa doanh nghiệp thông thường với DNXH, đồng thời, hạn chế việc cố ý sử dụng tên DNXH nhằm gây nhầm lẫn hoặc có hành vi trục lợi. Trường hợp đáp ứng đủ điều kiện là DNXH theo quy định tại Điều 10 LuậtDoanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp mới được sử dụng cụm từ “xã hội”. Đồng thời cần quy định cấm sử dụng cụm từ trên nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện là DNXH và có chế tài kèm theo nếu vi phạm. Khi DNXH không đủ điều kiện là DNXH hoặc hết thời hạn cam kết tiếp tục thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường thì bắt buộc tên riêng doanh nghiệp phải bỏ cụm từ “xã hội” bằng việc đăng ký thay đổi tên doanh nghiệp tại cơ quan quản lý nhà nước.

Do doanh nghiệp tự cam kết theo đuổi thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường và chịu trách nhiệm nên khi thỏa mãn hoặc không thỏa mãn các điều kiện là DNXH thì đương nhiên phải chấp nhận sự thay đổi về tên DNXH. Các quốc gia như Anh, Italy, Hàn Quốc đều có quy định sử dụng tên DNXH và chế tài xử lý khi doanh nghiệp vi phạm sử dụng tên DNXH.

2. Về quy trình đăng ký DNXH

Nghiên cứu phần trước đã cung cấp quy trình đăng ký DNXH cụ thể tại Vương quốc Anh và Hàn Quốc, theo đó, để được cấp giấy chứng nhận là DNXH thì đều cần có bộ phận chuyên trách thẩm định hồ sơ đăng ký DNXH đối với các cam kết như phân chia lợi nhuận tại các báo cáo tài chính, kế hoạch chi trả các khoản nợ, vay, tình hình sử dụng lao động,… Tại Hàn Quốc thì cơ quan đăng ký DNXH là cơ quan độc lập với cơ quan đăng ký kinh doanh, trong khi đó, tại Vương quốc Anh thì Cơ quan ĐKKD là cơ quan cấp giấy chứng nhận cho cả doanh nghiệp có mục tiêu vì xã hội, cộng đồng.

Đối với thực tiễn Việt Nam, để trở thành DNXH thì ngoài những giấy tờ quy định trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì cần kèm theo một số văn bản chứng minh/cam kết thực hiện các mục tiêu về môi trường, xã hội, cộng đồng. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, đối với doanh nghiệp thông thường, thời gian cấp đăng ký doanh nghiệp chỉ có 03 ngày làm việc sau khi cơ quan ĐKKD nhận được hồ sơ. Do DNXH thuộc 1 trong các loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 nên nếu duy trì thời gian cấp trong vòng 03 ngày làm việc thì cơ quan đăng ký chỉ có thể xem xét hồ sơ đăng ký DNXH và ghi nhận những thông tin cam kết trong hồ sơ, không thể thẩm định số liệu cam kết trong hồ sơ. Nếu các cơ quan quản lý liên quan cùng phối hợp, thẩm định hồ sơ đăng ký DNXH thì thời gian cấp giấy chứng nhận cho DNXH không thể đảm bảo theo quy định. Do vậy, nghiên cứu này đề xuất quy trình cấp đăng ký cho DNXH tương tự như quy trình đăng ký DN thông thường, thời gian vẫn là 03 ngày làm việc và cơ quan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký, tiến hành ghi nhận các thông tin mà DNXH đã cam kết. Quá trình hoạt động của DNXH sẽ chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý chuyên ngành.

3. Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ DNXH

Do DNXH luôn theo đuổi mục tiêu vì xã hội, cộng đồng và không vì lợi nhuận nên Nhà nước cần ban hành một số chính sách cụ thể để khuyến khích, thúc đẩy DNXH phát triển cả về mặt chất và lượng. Theo kinh nghiệm quốc tế, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các DNXH trong khoảng 5 năm đầu thành lập là việc hoàn toàn cần thiết nên Việt Nam cũng không nên nằm ngoài ngoại lệ này. Đồng thời, nên có chính sách giảm thuế thu nhập theo từng mức tương ứng đối với lợi nhuận dùng để tái đầu tư tại những năm tiếp theo để DNXH có thể tự đứng vững trong giai đoạn khó khăn ban đầu.

Song song với chính sách miễn, giảm thuế, các chính sách hỗ trợ khác có thể liệt kê như: ưu đãi trong đấu thầu khi DNXH tham gia đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và sản phẩm, dịch vụ xã hội, môi trường; ưu đãi khi DNXH đầu tư vào các khu vực, địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn;  ưu đãi trong việc Nhà nước ưu tiên mua hoặc tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ của DNXH, ưu đãi tiếp nhận các nguồn vốn viện trợ, vốn hỗ trợ phát triển chính thức có mức lãi suất đặc biệt ưu đãi hoặc không hoàn lại để triển khai các dự án vì cộng đồng,…

Ngoài ra, DNXH cần được khuyến khích và tạo điều kiện tiếp cận về thông tin, cơ sở hạ tầng của Nhà nước, hoặc sử dụng các công trình, cơ sở hạ tầng của Nhà nước trong quá trình hoạt động vì cộng đồng với mức phí ưu đãi.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần xem xét, thành lập Quỹ phát triển DNXH để phát triển nguồn tài chính bền vững hỗ trợ DNXH. Quỹ này sẽ được bố trí từ nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) hoặc nguồn hỗ trợ khác. Không chỉ giới hạn bởi nguồn NSNN, Quỹ sẽ mở rộng khả năng hợp tác, nhận tài trợ từ các tổ chức thiện nguyện và nhà đầu tư xã hội trong và ngoài nước.

4. Cơ chế theo dõi, giám sát hoạt động DNXH

Để đảm bảo DNXH hoạt động hiệu quả và minh bạch trong quản lý, sử dụng tài chính, Nhà nước cũng cần đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động, việc thực hiện cam kết của DNXH đối với các mục tiêu theo đuổi. Theo đó, cần có sự phối hợp đồng bộ các cơ quan chuyên ngành trong việc giám sát quá trình hoạt động và đăng ký DNXH nhằm đảm bảo sự xuyên suốt trong thực hiện các cam kết của DNXH. Chế độ báo cáo phải kịp thời, minh bạch và có chế tài đủ mạnh khi DNXH nào phá bỏ cam kết những mục tiêu đã theo đuổi hoặc không duy trì, không đáp ứng đủ các điều kiện tại Điều lệ DNXH (không thực hiện đầy đủ cam kết về mục tiêu xã hội, môi trường và mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, chậm hoặc không nộp báo cáo hoạt động kinh doanh, phân chia lợi nhuận tới cơ quan có thẩm quyền, chậm hoặc không nộp báo cáo tiếp nhận viện trợ, tài trợ, báo cáo đánh giá tác động xã hội tới cơ quan ĐKKD…) thì cơ quan quản lý nhà nước có thể thu hồi được phần tài chính còn lại đã tài trợ, viện trợ cho DNXH đó để chuyển tiếp cho các DNXH khác đang theo đuổi mục tiêu vì xã hội, cộng đồng.

 Ngoài ra, Nhà nước cần ban hành khung pháp lý đủ mạnh để có thể giám sát DNXH sử dụng các loại viện trợ không đúng mục đích, không hoàn lại hoặc hoàn lại không đầy đủ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ dành riêng cho DNXH.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Luật Doanh nghiệp năm 2014
  2. Luật Công ty (Kiểm toán, Kiểm tra và Doanh nghiệp cộng đồng) năm 2004 của Vương quốc Anh
  3. Luật Công ty 2006 của Vương quốc Anh
  4. Luật số 381 ngày 13/6/2005, Nghị định số 155 ngày 24/3/2006  của nước Italy
  5. Luật số 1351/2003 về doanh nghiệp xã hội của Phần Lan
  6. Luật Phát triển DNXH (Social Enterprise Promotion Act) năm 2007 và các lần sửa đổi, bổ sung của Hàn Quốc
  7. Nghị định hướng dẫn Luật Phát triển DNXH của Hàn Quốc ngày 29/6/2007 và các lần sửa đổi, bổ sung
  8. Luật kiểm soát đối xử thuế đặc biệt (The Special Tax Treatment Control Law) của Hàn Quốc

Lê Thanh Tú

Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

 

[1]Năm 2002, Bộ Thương mại và công nghiệp Anh (UK Department of Trade and Industry - DTI) công bố Chiến lược của Chính phủ Anh đối với DNXH, tại đó đã đưa ra định nghĩa trên đối với DNXH

[2]Nguồn : British Council- CSIP- Spark (2011), Báo cáo Kết quả khảo sát Doanh nghiệp xã hội Việt Nam năm 2011 do Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng (CSIP), Hội đồng Anh và Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Xã hội Tia Sáng (Spark) thực hiện

 

[3]Theo nghiên cứu của MacDonald M. & Howarth C. (2008), năm 1665, nước Anh có đại dịch hoành hành dẫn đến tình trạng thất nhiệp, Thomas Firmin đã thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1.700 công nhân. Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện.

[4]Companies (Audit, Investigations and Community Enterprise) Act 2004

[5] Khoản 1 Điều 2 Nghị định 155 quy định hàng hóa hay dịch vụ của tiện ích xã hội (Social utility) được sản xuất hay giao dịch tại các ngành, lĩnh vực sau: các dịch vụ về phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc vệ sinh xã hội (social-sanitary care), giáo dục, tổ chức và đào tạo, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, phát triển di sản văn hoá (valorization of the cultural patrimony), du lịch xã hội (social tourism), đào tạo và sau đào tạo, các dịch vụ văn hoá về nghiên cứu và cung ứng, giáo dục ngoại khoá và các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp xã hội.

[6]European Commission: A map of social enterprises and their eco-systems in Europe, Country Report: Italy, 2014

[7]Khái niệm mục đích của Luật Phát triển DNXH được nêu tại Luật sửa đổi, bổ sung số 10360 ban hành ngày 08/6/2010

[8]Điểm 1 khoản 1 Điều 8 Luật Phát triển DNXH: Article 8 (Certification Requirements and Procedures of Social Enterprises)

[9]Điểm 3 khoản 1 Điều 8 Luật Phát triển DNXH:Article 8 (Certification Requirements and Procedures of Social Enterprises)

[10]Điểm 7 khoản 1 Điều 8 Luật Phát triển DNXH: Article 8 (Certification Requirements and Procedures of Social Enterprises)

[11]Nguồn: Jong Gul Kim, 2013, Current Social Enterprise Issues and Policies in Korea, Các vấn đề và chính sách về DNXH hiện nay tại Hàn Quốc

[12]Nguồn: Chính sách Lao động và Việc làm tại Hàn Quốc năm 2012 (2012 Employment and Labor Policy in Korea)

[13]Nguồn: http://news.asiaone.com/news/singapore/ntuc-fairprice-role-model-social-enterprises-pm

Lượt xem: 9154

X

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img
Thông tin hỗ trợ
Hộp thư hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ thông tin, bố cáo điện tử, thanh toán điện tử