Ngày 18/3/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mục tiêu, nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh
Tập trung thực hiện có hiệu quả 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, các cơ chế chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, người dân phát triển sản xuất kinh doanh. Chú trọng các cơ chế, chính sách về quyền sở hữu tài sản, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ nhà đầu tư, bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, các quy định về phá sản, giải thể, cạnh tranh... Xây dựng cơ chế vận hành đồng bộ, thông suốt các thị trường hàng hóa, lao động, chứng khoán, bất động sản, khoa học công nghệ và các loại thị trường khác, bảo đảm phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.
Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Có cơ chế, chính sách ưu đãi hơn để huy động các nguồn lực ngoài nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực như là một phương thức phát triển mới, đổi mới quy trình quản lý, sản xuất và dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề. Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; kỹ năng quản lý đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, hội nhập quốc tế với lộ trình phù hợp; tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tài chính, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và dạy nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thị trường lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Tăng cường quản lý bảo hộ sở hữu trí tuệ. Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ.
Trong giai đoạn 2014 - 2015 tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giảm chi phí hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước. Phấn đấu đến hết năm 2015 đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6, trong đó một số tiêu chí cụ thể là:
Đơn giản thủ tục và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp xuống còn tối đa là 6 ngày; cải thiện các khâu liên quan khác nhằm rút ngắn thời gian từ đăng ký đến bắt đầu kinh doanh của doanh nghiệp; Cải cách quy trình, hồ sơ và thủ tục nộp thuế và rút ngắn thời gian các doanh nghiệp phải tiêu tốn để hoàn thành thủ tục nộp thuế đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 (mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 là 171 giờ/năm); Rút thời gian tiếp cận điện năng đối với các doanh nghiệp, dự án đầu tư xuống còn tối đa là 70 ngày (mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 là 50,3 ngày); Hoàn thiện quy định về quyền sở hữu và bảo vệ nhà đầu tư vào Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp theo hướng tăng cường bảo vệ quyền sở hữu, nhà đầu tư, cổ đông thiểu số theo chuẩn mực quốc tế; Tạo thuận lợi, bảo đảm bình đẳng, công khai, minh bạch trong tiếp cận tín dụng theo cơ chế thị trường giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế; Đơn giản hóa quy trình, hồ sơ và thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan và giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp, phấn đấu thời gian xuất khẩu và thời gian nhập khẩu bằng mức trung bình của các nước ASEAN-6(mức trung bình thời gian xuất khẩu của nhóm nước ASEAN-6 là 14 ngày và thời gian nhập khẩu là 13 ngày); Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục phá sản doanh nghiệp xuống còn tối đa 30 tháng; Công khai hóa, minh bạch hóa tình hình hoạt động, tài chính doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Triển khai thực hiện Nghị quyết
Tại Nghị quyết này, Chính phủ đã giao cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị Quyết số 19/NQ-CP, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã khẩn trương xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện Kế hoạch hành động cụ thể vể cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của từng Bộ, cơ quan, địa phương để hiện thực hóa Nghị quyết như: Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1553/QĐ-BTC ngày 08/7/2014; Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 3575/QĐ-BCT ngày 20/6/2014; Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BKHCN ngày 17/6/2014; Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1538/QĐ-BTP ngày 1/7/2014; Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 1572/QĐ-NHNN ngày 11/8/2014; Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1736/QĐ-BYT ngày 16/5/2014; Bộ Ngoại giao đã có Công văn số 1491/BNG-THKT ngày 8/5/2014; Bộ Nội vụ đã có Công văn số 1770/BNV-VP ngày 28/5/2014; Bộ Quốc phòng có Công văn số 5040/KH-BQP ngày 27/6/2014 về kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 19.
Kết quả thực hiện
Vừa qua tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam 2014 (VDPF) đã được khai mạc sáng ngày 05/12/2014 tại Hà Nội với chủ đề “Cải cách thể chế kinh tế, tăng cường khả năng tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ rõ những kết quả đạt được của Nghị quyết này, đó là:
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, các bộ đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết số 19 nói trên và kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, thứ hạng của Việt Nam về khởi sự kinh doanh dự kiến cải thiện vượt bậc từ 109 lên khoảng 60 và sẽ đạt mức của nhóm các bước tốp đầu về mức độ thuận lợi trong khởi sự kinh doanh và sẽ được cải thiện trong thời gian tới.
Về chỉ tiêu nộp thuế, nhiều văn bản pháp quy đã được sửa đổi, bổ sung nhằm đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính về thuế và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; ngày trong năm 2014, đưa số doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế điện tử từ 65% lên 95%; thời gian nộp thuế của doanh nghiệp giảm được 290 giờ, từ 537 giờ/năm xuống còn 247 giờ/năm. Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, thời gian nộp thuế của doanh nghiệp sẽ giảm thêm được 80 giờ, từ 247 giờ/năm xuống còn 167 giờ/năm (thấp hơn mức bình quân 171 giờ/năm của ASEAN-6);
Về thủ tục xuất nhập khẩu, số thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền nộp chậm, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được đơn giản hóa một bước từ ngày 01/10/2014. Tuy vậy, khảo sát thực tế hoạt động xuất, nhập khẩu tại Việt Nam cho thấy còn nhiều trờ ngại, vướng mắc hơn, tốn kém hơn so với những điều đã xác định trong Báo cáo Môi trường kinh doanh. Việc kiểm tra, quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu hiện nay cũng đang rất phức tạp, gây nhiều khó khăn về thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp trong thông quan hàng hóa. Theo đánh giá của cơ quan hải quan thì thời gian thông quan hàng xuất, nhập khẩu phụ thuộc vào thời gian làm thủ tục với các cơ quan quản lý chuyên ngành. Bởi vậy, cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động xuất, nhập khẩu không chỉ là trách nhiệm của Tổng Cục Hải quan mà còn đòi hỏi sự tham gia của các Bộ, cơ quan quản lý chuyên ngành. Như vậy, đến nay vẫn chưa đo lường được kết quả thực hiện chỉ tiêu “thương mại qua biên giới” như Nghị quyết đã xác định.
Đối với tiếp cận điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã có kế hoạch hành động, giảm thời gian thực hiện các thủ tục cắt điện cho trạm biến áp trung áp xuống còn 18 ngày làm việc, rút ngắn 42 ngày so với các quy định hiện hành. Thực tế cho thấy, thực hiện chỉ tiêu “Tiếp cận điện năng” không chỉ là trách nhiệm của ngành công thương, còn là trách nhiệm của Sở Xây dựng/Sở Giao Thông vận tải/ Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện hoặc cấp xã; và phòng cảnh sát Phòng cháy chữa cháy địa phương. Như vậy, để đạt được những mục tiêu như Nghị quyết đề ra, thì sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước có liên quan là điều cần thiết, không thể thiếu.
Tóm lại, có thể nói, Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia có một số khác biệt về cách xây dựng và triển khai thực hiện. Mục tiêu đề ra rất cụ thể, rõ ràng, thiết thực, đo lường được, khả thi và kiểm soát được. Kết quả bước đầu trên một số chỉ tiêu nộp thuế, khởi sự doanh nghiệp là khá rõ nét. Trên một số chỉ tiêu khác, như thương mại qua biên giới, tiếp cận điện, việc triển khai thực hiện là tích cực, quyết liệt, nhưng kết quả bước đầu chưa được rõ, chưa lượng hóa được; vấn đề trên thực tế còn phức tạp, khó khăn và tốn kém hơn đối với người dân và doanh nghiệp so với những gì được xác định trong xếp hạng về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh. Việc cải thiện 5 chỉ tiêu còn lại bao gồm: thủ tục phá sản, đóng cửa doanh nghiệp, tiếp cận tín dụng, giấy phép xây dựng, giải quyết tranh chấp và đăng ký tài sản chưa được triển khai một cách rõ nét; một số nội dung trong Nghị quyết 19 trên một số lĩnh vực như giáo dục, khoa học công nghệ, lao động và dạy nghề, các dịch vụ công liên quan đến quản lý nhà nước hầu như chưa được triển khai thực hiện. Điều đáng nói thêm là, trên các lĩnh vực này, các bộ, cá nhân có trách nhiệm liên quan chưa quan tâm triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao đúng như Nghị quyết đã yêu cầu.
Tài liệu tham khảo: Cải cách thể chế kinh tế thị trường để nâng cao sức cạnh tranh: Một số giải pháp giai đoạn 2015-2016.
(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)