Ngày 05/3/2017, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 48/2017/TT-BQP về Quy chế giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng. Theo đó, Quy chế này quy định về giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn góp Nhà nước; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan.
Giám sát tài chính được thực hiện bằng phương thức giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp, giám sát trước, giám sát trong, giám sát sau, trong đó tập trung vào việc giám sát trực tiếp, giám sát trước và giám sát trong nhằm phát hiện kịp thời các rủi ro về tài chính, hạn chế trong quản lý tài chính của doanh nghiệp và có cảnh báo, giải pháp xử lý.
Nội dung giám sát bao gồm: giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn; giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; giám sát chấp hành pháp luật về đầu tư, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, ban hành và thực hiện quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp; giám sát việc cơ cấu lại vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp đầu tư tại công ty con, công ty liên kết; giám sát thực hiện chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng, phụ cấp trách nhiệm và quyền lợi khác đối với người lao động, người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của Nhà nước, Bộ Quốc phòng.
Các dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
- Đối với doanh nghiệp đang trong giai đoạn lỗ kế hoạch, dấu hiệu mất an toàn tài chính là có số lỗ phát sinh năm báo cáo lớn hơn 30% so với mức lỗ kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Đối với doanh nghiệp sau giai đoạn lỗ kế hoạch: có số lỗ phát sinh trong năm báo cáo từ 30% vốn đầu tư của chủ sở hữu trở lên hoặc số lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn đầu tư của chủ sở hữu; có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt quá mức an toàn theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định của cơ quan đại diện chủ sở hữu (nếu có); có hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn nhỏ hơn 0,5.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng nêu rõ các dấu hiệu khác cơ quan đại diện chủ sở hữu cần kết hợp xem xét khi xác định dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp.
Cụ thể, đối với doanh nghiệp đang trong giai đoạn lỗ kế hoạch, các dấu hiệu gồm có số lỗ thực tế lớn hơn số lỗ kế hoạch trong 2 năm liền;
Đối với doanh nghiệp sau giai đoạn lỗ kế hoạch, các dấu hiệu gồm: lỗ hai năm liên tiếp trở lên; doanh thu thuần hoặc lợi nhuận gộp giảm liên tiếp 2 năm trở lên; có hệ số tín nhiệm thấp theo xếp hạng của các tổ chức xếp hạng tín dụng; không tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính, hoặc có ý kiến không chấp nhận, ý kiến từ chối trong Báo cáo kiểm toán, hoặc có ý kiến ngoại trừ trong Báo cáo kiểm toán trong 2 năm liền về cùng một vấn đề có ảnh hưởng trọng yếu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giám sát tài chính doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ được thực hiện định kỳ 6 tháng, hàng năm, Người đại diện lập Báo cáo giám sát tài chính đối với doanh nghiệp theo các nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP.
Giám sát tài chính doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ được thực hiện định kỳ hàng năm, Người đại diện hoặc đơn vị/cá nhân quản lý lập Báo cáo giám sát tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ thuộc Bộ Quốc phòng theo các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 33 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 20/4/2017, áp dụng cho năm tài chính 2016 trở đi.
Lê Thị Diễm Quỳnh
(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)