Công ước CEDAW là một trong những Công ước nhân quyền lớn nhất của Liên hợp quốc liên quan đến việc chống các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ. Và Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên ký và phê chuẩn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào năm 1981. Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, quyền chính trị của phụ nữ nói chung, quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ nói riêng ở Việt Nam đã được khẳng định trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật.
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, hiện Việt Nam được xếp thứ 47/187 quốc gia về chỉ số bình đẳng giới. Việt Nam cũng có tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội cao nhất trong khối các nước ASEAN. Thống kê trong các văn bản chính thức của Việt Nam, các chỉ tiêu về giới trong các vị trí lãnh đạo chính trị là tương đối cao, với ít nhất 35% nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong cuộc bầu cử 2016. Về các vị trí lãnh đạo chủ chốt, mục tiêu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Như vậy, có thể thấy vai trò của nữ giới Việt Nam đã ngày càng khẳng định được vị thế trong xã hội hiện nay. Bên cạnh sự tham gia trong lĩnh vực quản lý nhà nước, trong lĩnh vực kinh tế vai trò của nữ giới cũng đã được phát huy được tầm ảnh hưởng, điều này thể hiện rõ ở sự tham gia của nữ giới vào việc phát triển doanh nghiệp(1).
- Số lượng doanh nghiệp có nữ tham gia thành lập
Tính đến hết năm 2016, theo số liệu thống kê từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì trên cả nước có trên 200 nghìn doanh nghiệp có nữ giới tham gia thành lập doanh nghiệp, chiếm 28,5% tổng số doanh nghiệp của cả nước, với tổng số vốn đăng ký 2.236.722 tỷ đồng, chiếm 18% tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Vai trò của người phụ nữ từng bước được thay đổi theo các năm, nếu như năm 2012 số lượng doanh nghiệp có nữ giới tham gia thành lập doanh nghiệp chiếm tỷ lệ 30% trên tổng số doanh nghiệp thì con số đó từng bước tăng qua các năm, từ 2013 đến 2016 là 31% đến 32%.

- Tỷ trọng vốn đăng ký của doanh nghiệp có nữ tham gia thành lập
Về cơ bản, các doanh nghiệp do nữ giới thành lập vẫn thuộc khối doanh nghiệp nhỏ, với số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (chiếm 93,53%). Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hướng giảm dần qua các năm. Ngược lại, tỷ lệ doanh nghiệp với số vốn rất lớn trên 100 tỷ do nữ giới tham gia thành lập có sự tăng trưởng theo thời gian, cho thấy phụ nữ Việt Nam sau khi gia nhập thị trường doanh nghiệp đã từng bước phát triển và đã đạt được những thành công nhất định. Hiện nay, nhiều nữ doanh nhân giữ những vị thế quan trọng trong xã hội, tạo ra một luồng không khí mới trong thời đại bình đẳng của nữ giới hướng tới một nền kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Tỷ lệ doanh nghiệp có nữ giới phân bổ theo vùng lãnh thổ
Theo thống kê trung bình 5 năm trở lại đây số lượng nữ giới tham gia thành lập doanh nghiệp thiên hướng tập trung nhiều ở khu vực Đông Nam Bộ chiếm 33% đến 35% trên tổng số doanh nghiệp nữ tham gia thành lập của cả nước, trong đó thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ doanh nghiệp có nữ tham gia thành lập trong 5 năm trở lại đây trung bình là 35% và của Hà Nội là 28,7% . Con số này thấp nhất là ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc (giao động từ 24% đến 27%).
Tuy nhiên, trong năm 2016 số lượng doanh nghiệp do nữ giới thành lập doanh nghiệp vẫn tiếp tục tập trung đông ở khu vực Đông Nam bộ (34%), Đồng bằng sông Cửu Long (31%) và Đồng bằng Sông Hồng (30%).

- Tỷ lệ doanh nghiệp có nữ giới phân bổ theo ngành nghề kinh doanh
Trong 5 năm trở lại đây, Nữ giới thành lập doanh nghiệp tham gia đầy đủ các lĩnh vực ngành nghề kinh tế. Theo thống kê nữ giới tham gia tập trung đông nhất vào lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe. Trước đây ngành công nghiệp vốn là lĩnh vực đặc quyền của nam giới, nhưng ngày nay xã hội ngày càng phát triển nữ giới đã góp phần thay đổi quan niệm đó qua việc ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo đứng vị trí thứ hai trong tỷ lệ ngành nghề nữ giới tập trung đông. Trong số đó lĩnh vực nữ giới tham gia ít là y tế và hoạt động trợ giúp xã hội và khai khoáng.

- Tình hình tạm ngừng hoạt động kinh doanh, hoạt động trở lại, giải thể doanh nghiệp có nữ giới tham gia thành lập doanh nghiệp
Trong 5 năm trở lại đây số lượng doanh nghiệp nữ tham gia thành lập có tỷ lệ đăng ký tạm ngừng kinh doanh trên tổng số doanh nghiệp có tỷ lệ thấp, thấp nhất là năm 2012 là 5,5% và cao nhất là 2016 với tỷ lệ là 12,2% trên tổng số doanh nghiệp cả nước đăng ký tạm ngừng. Trong đó trong năm 2016, tỷ lệ doanh nghiệp nữ tạm ngưng của thành phố Hồ Chí Minh chiếm 33,1% trên tổng số doanh nghiệp nữ thành lập và Hà Nội chiếm 18,9%.
Số lượng doanh nghiệp có nữ thành lập hoạt động trở lại có sự tăng lên về số lượng qua các năm, cho thấy các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước các nữ doanh nhân Việt cũng từng bước làm quen, thích ứng và bắt nhịp với thị trường hiện nay nếu như năm 2013 số lượng doanh nghiệp quay lại hoạt động chiếm 27,3 % tổng số doanh nghiệp nữ quay lại thì năm 2015 số lượng này đã tăng lên tới 33%.

Trong 5 năm trở lại đây, số doanh nghiệp nữ giải thể cũng có nhiều thay đổi. Tỷ lệ doanh nghiệp nữ giải thể thấp nhất là 2013 chiếm 31,4% trên tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước, 2015 chiếm tỷ lệ cao nhất là 35%.

Tương ứng với việc tập trung đăng ký ngành nghề bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô xe máy thì đây cũng là lĩnh vực doanh nghiệp nữ giải thể nhiều nhất trong đó doanh nghiệp giải thể tập trung chủ yếu các doanh nghiệp quy mô vốn nhỏ.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng còn nhiều khó khăn và thác thức, với bản lĩnh và nghị lực của mình các doanh nhân nữ Việt Nam từng bước được xã hội công nhận và được đối xử bình đẳng với nam giới, dù có lo toan bộn bề công việc gia đình cũng như cơ quan nhưng người phụ nữ Việt Nam đã và đang khẳng định mình trong việc xây dựng kinh tế gia đình vững chắc và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Trần Thị Xuyến
(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)