Ngày 21/02/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Nghị quyết số 27/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, trong đó nêu rõ nhiệm vụ phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.
Một số nội dung chính của Nghị quyết số 27/NQ-CP
Mục tiêu của cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020 được nêu tại Chương trình hành động cụ thể là:
- Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 3,5% GDP.
- Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016 - 2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 54% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.
- Phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng, nợ xấu đã bán cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và nợ xấu đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại yếu kém được Chính phủ phê duyệt xử lý theo phương án riêng). Phấn đấu giảm lãi suất cho vay trung bình trong nước có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình trong nhóm ASEAN-4. Nâng cao quy mô và hiệu quả của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm. Đến năm 2020, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 70% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt 30% GDP, doanh thu ngành bảo hiểm đạt tối thiểu 4% GDP.
- Thoái toàn bộ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc các ngành không cần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn, thoái vốn nhà nước xuống mức sàn quy định đối với các ngành mà Nhà nước sắp xếp, cơ cấu lại vốn đầu tư. Đến năm 2020, có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động; 15.000 hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả.
- Nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công đạt mức chất lượng tiếp cận 04 nước ASEAN phát triển nhất (ASEAN-4). Tỉ trọng đầu tư nhà nước khoảng 31 - 34% tổng đầu tư toàn xã hội.
- Giai đoạn 2016 - 2020, hằng năm có khoảng 30 - 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm cao hơn 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng năng suất lao động năm 2020.
- Đến năm 2020, tỉ trọng lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có bằng cấp đạt khoảng 25%; tỉ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%.
- Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 30 - 35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN-4.
Để đạt được mục tiêu đề ra, Chương trình hành động đã xác định rõ 16 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu gồm:
1. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô
2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
3. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại
4. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
5. Phát triển và thúc đẩy chuyển giao khoa học - công nghệ
6. Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước
7. Cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng
8. Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công
9. Đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập
10. Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
11. Cơ cấu lại một cách thực chất các ngành công nghiệp
12. Cơ cấu lại và phát triển nhanh các ngành dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP
13. Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam
14. Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hóa
15. Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh
16. Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.
Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam
Kinh tế tư nhân là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế, đóng vai trò quan trọng trên bình diện xã hội chính trị, góp phần hình thành một xã hội công dân, qua đó, người dân có được vị thế kinh tế xã hội độc lập hơn và có điều kiện phát huy khả năng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển bền vững, khu vực kinh tế tư nhân là nguồn lực của sức mạnh kinh tế, vốn tri thức, là niềm tự hào của dân tộc. Tại Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân đã trải qua nhiều biến động trong suốt hai thập niên qua. Kể từ khi nhà nước từ bỏ vai trò độc quyền hoạt động kinh tế và công nhận thành phần kinh tế tư nhân, khu vực này không ngừng lớn mạnh. Có thể nói, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân cùng với chính sách mở cửa mậu dịch đã trở thành nhân tố chính dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam.
Trong quá trình phát triển Đảng và Nhà nước đã xác định, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế tồn tại lâu dài, bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử, quan hệ với các thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường bằng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, được tự do đầu tư hoạt động kinh doanh theo pháp luật, không bị giới hạn về quy mô, địa bàn, trình độ công nghệ, được Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích phát triển trong lĩnh vực sản xuất có lợi cho quốc kế dân sinh mà pháp luật không cấm để làm giàu chính đáng cho mình và cho đất nước. Đảng và Nhà nước luôn coi “Kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN”.
Từ quan điểm đó, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách lớn nhằm hỗ trợ cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Các ngành, các địa phương thực hiện nhất quán chính sách đối với kinh tế tư nhân, tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi, an toàn, tin cậy, hấp dẫn để thu hút các nguồn đầu tư của kinh tế tư nhân để có thể thúc đẩy phát triển sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội theo phương hướng và mục tiêu xác định. Các chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân bao gồm:
- Chính sách và giải pháp hỗ trợ về tài chính nhằm tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động các nguồn lực hỗ trợ tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, Chính phủ điều chỉnh chính sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng theo hướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu. Chính phủ cũng đã xem xét việc thành lập Quỹ phát triển, Quỹ bảo lãnh tín dụng,… Các Chính sách này của Chính phủ đã có tác động tích cực và thiết thực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần giúp khu vực này vượt qua được giai đoạn khó khăn, duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động.
- Ban hành các nhóm giải pháp nhằm hỗ trợ về mặt bằng sản xuất. Trong thời gian qua, Chính phủ đã tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công khai diện tích đất, tổ chức giải phóng mặt bằng nhằm tạo quỹ đất cho các khu vực kinh tế tư nhân thuê hoạc dánh quỹ đất để xây các cụm, khu công nghiệp... tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Chính phủ đẩy mạnh cải cách hành chính tạo thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân về các mặt như thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, và các thủ tục có liên quan theo hướng “một cửa liên thông” đảm bảo về mặt thời gian và tiết kiệm chi phí.
- Chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ, hỗ trợ thay đổi, cải tiến, hiện đại hóa trang thiết bị sản xuất. Trong thời gian qua, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng trong lĩnh vực khoa học công nghệ như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Sở hữu Trí Tuệ, Luật Công nghệ cao,… Chính phủ cũng đã dành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ như: ưu đãi về tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, ưu đãi về tiếp cận vốn tín dụng,…
- Chính sách và biện pháp nhằm nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Chính phủ thương xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề đáp ứng nhu cầu lao động có tay nghề cho khu vực kinh tế tư nhân….
Có thể nói, các quan điểm và chính sách của Đảng và Chính phủ được thay đổi một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đoạn đã có tác động tích cực tới sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Thực tế cho thấy, kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ vai trò của nó, trở thành một khu vực kinh tế năng động để các khu vực kinh tế khác phấn đấu vươn lên, tự đổi mới, tự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm gắn liền với chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Những thành tựu kinh tế quan trọng đạt được qua 30 năm đổi mới đất nước là bằng chứng sinh động, xác nhận một cách thuyết phục sự khởi sắc của nền kinh tế nói chung và triển vọng tiềm tàng của kinh tế tư nhân nói riêng. Bởi vậy, có thể nói, đối với nước ta, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây có thể coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới của đất nước trong những năm sắp tới.
Sự phát triển của kinh tế tư nhân đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, được thể hiện trên các mặt sau: huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất kinh doanh; tạo ra nhiều của cải hàng hóa cho xã hội; đóng góp vào ngân sách nhà nước,;góp phần nâng cao sức sản xuất của xã hội; tạo thêm nhiều việc làm mới vừa làm tăng của cải vật chất cho xã hội, vừa làm giảm áp lực giải quyết việc làm cho người lao động; thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại thị trường; làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước; tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh; vừa góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội; tạo động lực và môi trường cạnh tranh sống động, linh hoạt, sáng tạo cho sự phát triển; góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành sản xuất và thực hiện đường lối “chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế”.
Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam giai đoạn 2016-2020
Với vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân, tại Chương trình hành động ban hành kèm theo Nghị quyết số 27/NQ-CP, Chính phủ đã coi việc phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam là một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.Cụ thể, Chính phủ yêu cầu:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường công tác điều phối các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; rà soát tổng thể và đề xuất sửa đổi, bổ sung các luật, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh, đảm bảo tính thống nhất, công khai, minh bạch, không có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
- Văn phòng Chính phủ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đổi mới lề lối, phương thức và thái độ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức theo hướng hỗ trợ và phục vụ doanh nghiệp; công khai, minh bạch, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đối với cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước, xử lý nghiêm các tiêu cực, nhũng nhiễu.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức đối thoại công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng doanh nghiệp, báo chí để kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trên địa bàn; thành lập và công khai đường dây nóng, hỏi đáp trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố để tiếp nhận phản ánh và hướng dẫn, giải đáp cho doanh nghiệp; chỉ đạo và chịu trách nhiệm đẩy mạnh triển khai có hiệu quả cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
Bên cạnh đó, tiếp tục tập trung triển khai quyết liệt có hiệu quả các nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Chỉ đạo các Sở, ban, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các quận, huyện không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; Thực hiện rà soát, điều chỉnh các chính sách, quy trình, thủ tục phê duyệt hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các quỹ phát triển công nghệ địa phương theo hướng đơn giản hóa quy trình, thủ tục nhận hỗ trợ và hỗ trợ có mục tiêu, trọng điểm; rà soát các quy hoạch ngành, lĩnh vực để điều chỉnh, bổ sung hoặc loại bỏ cho phù hợp với thị trường và quyền kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thời,thực hiện thanh tra, kiểm tra đúng theo quy định pháp luật (không quá một lần/năm); kết hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành nhiều nội dung trong một đợt thanh tra, kiểm tra, trừ trường hợp thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật rõ ràng; đôn đốc các cơ quan trực thuộc thực hiện nghiêm quy định về đất đai, xây dựng, môi trường, đăng ký kinh doanh, đầu tư và các thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Có thể nói năm 2016 đã ghi nhận nhiều nỗ lực và quyết tâm cao của Chính phủ trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, góp phần không nhỏ trong việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020 của Chính phủ đã xác định mục tiêu cụ thể là đưa môi trường kinh doanh của nước ta bằng mức trung bình của các nước ASEAN 4 (Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines). Đặc biệt, Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 còn đề ra mục tiêu cả nước phải có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2020; từ đó quyết tâm thực hiện chủ trương của Chính phủ là xây dựng Chính phủ kiến tạo và lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ.
Bên cạnh đó, từ ngày 1/7/2016, tất cả các điều kiện về đầu tư kinh doanh phải được ban hành dưới hình thức Nghị định, Pháp lệnh hoặc Luật; các điều kiện đầu tư kinh doanh được ban hành dưới hình thức Thông tư, Quyết định của UBND đều không còn hiệu lực thi hành. Cũng trong năm 2016, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư, qua đó đã bãi bỏ nhiều ngành, nghề kinh doanh có điều kiện so với Danh mục trước đây.
Năm 2016 cũng ghi nhận sự thuận lợi hơn trong việc thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp khi trong năm này, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới lên tới 110.100 doanh nghiệp – một con số kỷ lục, vượt qua mốc 100.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 01 năm.
Kết quả đạt được của các nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nói trên là đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, trong đó có việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, với quyết tâm cao và đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cùng với đó, lực lượng doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đang trưởng thành, đầy ý chí vươn lên làm giàu cho mình và cho đất nước, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua các thách thức để làm động lực đưa nền kinh tế nước ta phát triển và hội nhập./.
Võ Huy Hùng
Cục Quản lý đăng ký kinh doanh